+ Reply to Thread
Trang 3 của 14 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 5 13 ... CuốiCuối
Kết quả 21 tới 30 của 136

Chủ đề: Những câu truyện ngắn

  1. #21
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Truyện này ai cũng biết rồi, mình thích truyện này nhất nhất Click here to enlarge

    CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

    Tại một quận nhỏ nằm về hướng tây công trường Washington, đường sá chạy rối loạn, quanh co, tròng tréo nhau tạo thành nhiều khu nhỏ, thường được gọi là những "cái ổ". Những "cái ổ" này cong lượn, hình thù thật kỳ dị. Một con đường cứ tự cắt mình ra một hoặc hai lần. Có chàng nghệ sĩ phát ngôn rằng đường sá như vậy cũng có cái... lợi của nó. Giả sử như có một tên đòi nợ đến thu tiền cọ tiền sơn các thân chủ họa sĩ ở đây, lòng vòng qua những con đường như vậy cuối cùng chỉ để tìm thấy chính... mình, với hai bàn tay không.
    Vì vậy mà các nghệ sĩ tìm đến, lang thang trong cái làng cổ Greenwich để tìm thuê những căn nhà có những chiếc cổng xây theo kiểu kiểu Hà Lan từ thế kỷ thứ mười tám, cửa sổ quay về hướng bắc với giá thuê thật hạ Rồi họ mang vào những chiếc thùng bằng thiết, vài cái dĩa mòn lỉn kiếm được ở Đại Lộ Thứ Sáu và cứ như vậy cái làng cổ mặc nhiên trở thành một "thuộc địa" của đám nghệ sĩ. Click here to enlarge
    Sue và Johnsy có một xưỡng vẽ ở lầu trên cùng của một căn nhà gạch ba từng thấp lè tè. Johnsy là tên gọi ở nhà của Joanna. Một người từ Main, một người từ California, họ gặp nhau tại quán cơm bình dân trên đường Số Tám, cùng yêu thích hội họa, cùng mê món rau díp trộn, tương đắc đến nỗi cột tay áo mướn chung với nhau một xưởng vẽ.
    Đó là hồi tháng Năm. Vào tháng mười một thì trời phái một ông khách lạnh lùng mà các ngài bác sĩ thường gọi là Bệnh Viêm Phổi đến khủng bố khu "thuộc địa", thò cái bàn tay lạnh ngắt, sờ chỗ này một chút, vỗ chỗ kia một phát. Khu vực phía đông bị ảnh hưởng nặng nề với khá nhiều người bệnh, nhưng bước chân của ông khách chậm dần khi bước vào cái mê cung chật hẹp rêu phong của khu "thuộc địa"
    Ông khách Viêm Phổi không phải là hạng người mà bạn thường gọi là ông bạn già hào hiệp. Cô Johnsy gốc Cali nhỏ bé, liễu yếu đó thật ra không phải là đối thủ xứng tay của lão già tay đỏ điếm đàng, nhưng lão vẫn đập cô ta tận tình. Vì vậy mà cô gái nằm xụi lơ, bất động trên chiếc giường sắt, mắt nhìn vào bức tường gạch của căn nhà kế cận xuyên qua khung cửa sổ nhỏ.
    Một bữa sáng nọ, ông bác sĩ mời Sue ra ngoài hành lang, nhướng đôi mày rậm:
    "Cô ta chỉ có chừng một phần..., để coi, phần mười cơ hội sống sót" Vừa nói ông vừa rảy rảy cái nhiệt độ kế. "Đó là vì cô ta không có chí cầu sinh. Cái cảnh bệnh nhân sắp hàng chờ chết chớ không chịu uống thuốc chắc phải làm cho các thầy chế thuốc xấu hổ. Cô bạn nhỏ của cô đã hạ quyết tâm không chịu bình phục rồi. Cô ta có mơ ước gì trong đầu không?"
    Sue đáp:
    "Cô ấy... muốn một ngày nào đó sẽ vẽ Vịnh Naples."
    "Vẽ? Chậc! Cô ta có một cái gì đáng giá hơn trong đầu để nghĩ tới không, một người đàn ông chẳng hạn?"
    "Đàn ông?" Sue lập lại với một giọng mũi khịt khịt. "Đàn ông mà đáng giá thật..., à... không, thưa bác sĩ, không có những chuyện như vậy."
    "Chà, như vậy thì tệ thật!" Bác sĩ nói. "Tôi sẽ rán hết sức làm những gì mà khoa học có thể làm được. Nhưng hễ khi nào bệnh nhân của tôi bắt đầu nghĩ tới chiếc xe chở quan tài và đám đô tùy thì tôi trừ đi một nửa cái hiệu quả của thuốc men. Nếu cô có thể làm cho cô ấy thắc mắc một chút gì về mùa đông năm tới thì tôi có thể hứa với cô là cái cơ hội sống sót là một trên năm, còn không thì một trên mười."
    Sau khi ông bác sĩ bỏ đi, Sue trở vào phòng làm việc và khóc đến nhão chiếc khăn giấy Nhật Bản. Sau đó cô vác cái giá vẽ vào phòng Johnsy, miệng ba hoa những câu bông đùa chọc vui.
    Johnsy nằm im lìm bất động dưới tấm chăn phủ giường, mặt hướng về phía cửa sổ. Ngỡ là bạn đang ngủ, Sue ngưng những lời đùa giỡn.
    Cô ta sắp xếp giá vẽ và bắt đầu minh họa cho một truyện đăng báo. Những họa sĩ trẻ dọn đường đến với nghệ thuật bằng cách minh họa cho các truyện trên báo, cũng như các nhà văn trẻ dọn đường đến với văn chương bằng ngòi bút.
    Lúc Sue đang mặc áo quần, mang mắt kiếng cho một nhân vật anh hùng, một chàng kỵ sĩ miền Idaho, thì cô nghe một thứ âm thanh rầm rì, lập đi lập lại nhiều lần. Cô ta chạy vội lại bên giường người bệnh.
    Johnsy đang mở tròn mắt, nhìn ra ngoài cửa sổ và đếm. Đếm ngược.
    "Mười hai." một lát sau "Mười một", "Mười", rồi "Chín"; rồi "Tám" và "Bảy" gần như liền nhau.
    Sue nhìn ra ngoài cửa sổ với vẻ bồn chồn lo lắng. Có gì ở ngoài đó để đếm đâu? Chỉ có một khoảng sân trống trơn buồn thảm và cái tường gạch của căn nhà cách đó hai mươi thước. Một giây nho già, thật già, gân guốc và cằn cỗi bò lên gần nửa bức tường. Những cơn gió lạnh mùa thu vừa qua làm lá rụng gần hết chỉ còn trơ lại mấy nhánh bám lủng lẳng vào bức tường gạch đổ nát.
    Sue hỏi:
    "Đếm gì vậy, nhỏ?"
    "Sáu." Johnsy nói, gần như thì thầm. "Nó bắt đầu rụng nhanh rồi. Ba ngày trước còn cả trăm, làm mình đếm đến nhức đầu. Nhưng bây giờ thì dễ rồi. Lại một chiếc nữa rụng kìa. Chỉ còn có năm chiếc."
    "Năm chiếc gì hở nhỏ? Nói cho Sudie biết với."
    "Lá! Lá trên giây nho. Khi chiếc lá nho cuối cùng rơi xuống thì mình cũng sẽ đi luôn. Mình nghiệm ra điều đó ba hôm rồi. Bác sĩ không nói cho bạn biết như vậy sao?"
    "Ồ, mình chưa bao giờ nghe được những chuyện vô lý như vậy." Sue gắt bạn, giọng pha một chút giễu cợt. "Cái giây nho già đó thì có liên quan gì đến sức khỏe của bạn? Bạn thường vẫn thích cái giây nho đó lắm mà, cái cô hư này. Đừng có suy nghĩ dại dột như vậy. Ồ, hồi sáng này bác sĩ nói là bạn có nhiều cơ hội bình phục lắm, để nhớ chính xác coi ổng nói sao, ổng nói, mười ăn một. Như vậy thì chắc ăn như bắp rồi, chắc ăn như mình chạy xe trên đường phố hay đi bộ qua các cao ốc ở New York vậy. Thôi, rán ăn chút súp nhá, rồi để cho con nhỏ Sudie này tiếp tục vẽ tranh bán kiếm chút tiền còm mua rượu cho con đang bệnh, mua thịt heo xay về ăn cho đỡ đói nhá."
    "Bạn không cần phải mua thêm rượu nho." Johnsy nói mà mắt vẫn dán chặt ra ngoài cửa sổ. "Một chiếc nữa rụng. Không, mình không muốn ăn súp đâu. Vậy là chỉ còn lại bốn chiếc. Mình muốn nhìn thấy chiếc lá cuối cùng rơi trước khi trời tối. Rồi mình sẽ đi theo..."
    Sue cúi xuống bên mình Johnsy:
    "Johnsy, nhắm mắt lại và hứa là sẽ không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa cho đến khi nào mình vẽ xong. Mình phải nộp mấy bản vẽ này vào ngày mai. Mình cần chút ánh sáng, nếu không thì bức tranh sẽ tối hù."
    Johnsy hỏi, vẻ lạnh lùng:
    "Bạn không vẽ ở phòng khác được à?"
    "Mình cần phải ở đây với bạn." Sue đáp. "Ngoài ra, mình không muốn bạn cứ nhìn vào mấy cái lá nho chết tiệt đó."
    "Vẽ xong thì nhớ cho biết liền." Johnsy nói và nhắm mắt lại, nằm bất động như một bức tượng bị đổ. "Tại mình muốn nhìn thấy chiếc lá cuối cùng rơi xuống. Mình chờ mệt quá rồi. Mình suy nghĩ mệt quá rồi. Mình muốn buông xuôi tất cả, để cho nó cứ tự do rơi xuống, rơi xuống như những chiếc lá tội nghiệp kia."
    "Rán ngủ đi." Sue nói. "Mình phải kêu ông Behrman lên ngồi làm mẫu một người thợ mỏ nghèo. Mình sẽ đi chừng một phút. Đừng cử động gì cả cho đến khi mình trở lại, nhé."
    Lão Behrman là một họa sĩ ở ngay dưới tầng trệt. Lão đã quá sáu mươi tuổi, có một bộ râu chảy dài từ một cái đầu to tướng xuống một thân hình nhỏ thó giống như bộ râu dài của thánh Moses trong tranh của Michael Angelo. Behrman là một nghệ sĩ thất bại. Lão cầm cọ đã bốn mươi năm rồi mà chẳng vẽ được một bức tranh nào cho ra hồn. Lúc nào lão cũng làm như sắp sửa thực hiện một tác phẩm lớn, nhưng thực sự chưa bao giờ bắt tay vào việc. Suốt mấy năm liền lão chẳng vẽ vời gì ngoài một vài bức tranh quảng cáo lem nhem. Lão kiếm sống bằng nghề làm người mẫu cho các họa sĩ trẻ trong khu thuộc địa vì các họa sĩ trẻ này không đủ tiền mướn các người mẫu chuyên nghiệp. Lão uống rượu như hũ chìm, và nói hoài về cái tác phẩm lớn sắp hoàn thành của mình. Đối với nhiều người thì lão là một lão già nhỏ con mà gân lắm, thường mạt sát thậm tệ cái tánh ủy mị yếu đuối của người khác và tự coi mình như một người dẫn dắt, bảo vệ hai cô họa sĩ trẻ trong cái xưỡng vẽ trên lầu.
    Sue tìm thấy lão Behrman trong căn phòng nhỏ tối hù của lão ở lầu dưới, người nồng nặc mùi rượu dâu. Trong một góc phòng, tấm vải trên khung vẽ vẫn còn trống trơn nằm chờ hơn hai mươi năm rồi đường cọ đầu tiên của cái tác phẩm lớn của lão. Cô kể cho lão nghe về sự tưởng tượng lạ lùng của Johnsy, về nỗi lo là cô ta vốn đã mong manh, yếu đuối, khi nghị lực của cô cạn đi rồi thì cô sẽ trôi tuột đi như chiếc lá lìa cành.
    Lão Behrman, cặp mắt đỏ ngầu chiếu thẳng ra trước, la lên với vẻ chế nhạo, khinh bỉ cái óc tưởng tượng ngu ngốc đó.
    "Dà." Lão khóc. "Thế dan có người ngu nào nghĩ như con nhỏ đó là mình sẽ chít theo những chiếc lá nho khi nó lìa cành không? Lão chưa từng nghe chiện đó bao giờ. Không, Lão không làm cái người mẫu khổ hạnh ngu ngốc đó cho cô đâu, hiểu chưa. Sao cô lại để cho những chiện ngu xuẩn như dậy chạy dô đầu con nhỏ đó như dậy hả? Ờ, cái con nhỏ Johnsy tội nghiệp."
    "Cô ta bệnh nặng và yếu lắm." Sue đáp. "Cơn sốt làm cho tâm trí cô ta trở nên hổn loạn, tưởng tượng ra những việc hoang đường. Được rồi. Ông Mehrman, nếu ông không muốn làm người mẫu cho tôi thì cũng không sao. Tôi biết ông chỉ là một lão già khó tánh, ba hoa, ngồi lê đôi mách."
    "Cô đúng là cái giống đờn bà!" Lão Behrman la lên. "Ai nói là lão không chịu ngồi mẫu? Đi đi. Lão sẽ lên gặp cô. Suốt nửa tiếng đồng hồ vừa rồi lão đã giải thích là lão sẳn sàng ngồi mẫu mà. Dà, đây đâu phải là chỗ cho những người tốt như cô Johnsy nằm bịnh chớ. Một ngày nào đó lão sẽ dẽ xong tác phẩm lớn, rồi chúng ta sẽ rời bỏ chỗ này. Dà, đúng dậy."
    Lúc hai người lên đến nơi thì Johnsy đang ngủ. Sue kéo tấm màn cửa sổ cho kín lại và ra dấu cho lão Behrman sang phòng kế. Cả hai cùng lo lắng nhìn mấy cọng giây nho bên ngoài cửa sổ. Rồi cả hai cùng nhìn nhau một lúc lâu không nói lời nào. Trời mưa dai dẳng và có chút tuyết rơi. Lão Behrman trong chiếc áo xanh cũ kỷ, bắt đầu ngồi lên trên cái ấm nước đặt lộn ngược giả làm tảng đá để làm mẫu một người thợ mỏ nghèo khó.
    Sáng hôm sau, khi Sue thức dậy sau chừng một giờ ngủ mê, cô bắt gặp Johnsy với cặp mắt mở lớn, đờ đẫn đang nhìn chăm chăm vào một cái bóng màu xanh.
    "Kéo cửa sổ lên. Mình muốn nhìn một chút." Cô thì thầm ra lệnh.
    Sue làm theo một cách uể oải.
    Nhưng, ô kìa, sau một cơn mưa dữ dội và những cơn gió vật vả suốt đêm dài, một chiếc lá nho vẫn còn hiện rõ mồn một trên bức tường gạch. Đó là chiếc lá nho cuối cùng còn sót lại. Cuống lá vẫn còn cái màu xanh đậm nhưng ven rìa lá răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, treo lơ lững như thách đố trên một giây nho cách mặt đất chừng hai chục thước. Click here to enlarge
    "Đó là chiếc lá cuối cùng." Johnsy nói. "Mình cứ tưởng nó chắc phải rụng hồi đêm rồi. Mình nghe gió dữ lắm. Chắc nó sẽ rụng trong ngày hôm nay và mình cũng sẽ rụng theo."
    "Nhỏ, nhỏ ơi." Sue vừa nói vừa dúi khuôn mặt mệt mõi của mình vào chiếc gối. "Nếu bạn không muốn nghĩ đến bản thân mình thì xin hãy nghĩ tới Sue đây. Sue phải làm sao đây?"
    Nhưng Johnsy không trả lời. Cái sinh vật cô đơn khủng khiếp nhất trên thế gian này phải là cái linh hồn khi đã sẳn sàng đi vào một cuộc hành trình miên viễn, đầy huyền bí. Sự tưởng tượng hoang đường đó dường như càng ám ảnh cô gái mạnh mẽ hơn khi mối liên hệ với bạn bè và với trái đất này của cô cứ lỏng lẽo dần.
    Ngày tàn dần, và dù trời nhá nhem tranh tối tranh sáng, họ vẫn có thể nhìn thấy chiếc lá nho duy nhất còn bám vào cuống giây nổi bật trên bức tường. Rồi đêm đến và những cơn gió bắc lụn dần, trong khi cơn mưa vẫn còn đập vào khung cửa sổ, và rơi lộp bộp dưới mái hiên.
    Khi trời vừa hừng sáng, Johnsy thẩn thờ đòi kéo tấm màn che lên.
    Chiếc lá vẫn còn đó.
    Johnsy nằm yên lặng nhìn một lúc khá lâu. Rồi cô cất tiếng gọi Sue đang khuấy nồi súp gà trên cái lò gas.
    "Mình thật là hư quá, Sudie ạ." Johnsy nói. "Một cái gì đó đã làm cho chiếc lá cuối cùng kia không chịu rụng làm mình cảm thấy xấu hổ quá, mình thật là tệ quá. Muốn chết đi thì quả là một điều ngu xuẩn. Bạn mang cho mình một chút súp đi, một ít sữa có pha chút rượu nho nữa; nhưng khoan, mang cho mình một cái gương nhỏ trước đã, rồi kê giùm mình mấy chiếc gối để mình có thể ngồi dậy nhìn bạn làm bếp."
    Một giờ sau cô ta bảo:
    "Sudie này, mình hy vọng có ngày sẽ vẽ Vịnh Naples."
    Chiều hôm đó bác sĩ đến thăm. Sue cáo lỗi với bạn để đi ra hành lang gặp bác sĩ khi ông ta ra về.
    "Có triển vọng tốt." Bác sĩ vừa nói vừa cầm lấy bàn tay gầy guộc và run rẩy của Sue. "Rán chăm sóc thì cô ấy sẽ khỏi. Bây giờ tôi phải đi thăm một bệnh nhân khác dưới lầu, tên là Behrman, nghe nói là một nghệ sĩ gì đó. Cũng bị viêm phổi. Ông ta già, yếu thành ra bị nặng lắm. Không có hy vọng gì; nhưng hôm nay sẽ đưa ông ta vào bệnh viện để được tiện nghi hơn."
    Hôm sau bác sĩ bảo Sue:
    "Cô ấy qua cơn nguy rồi. Cô đã thắng. Giờ chỉ cần ăn uống và tịnh dưỡng là đủ."
    Chiều hôm đó, Sue đến bên Johnsy đang nằm trên giường bệnh, thắt lại chiếc khăn len quàng cổ màu thật xanh, quàng tay ôm lấy bạn, rồi ôm chiếc gối, tần mần tẩn mẩn...
    "Mình có chuyện này muốn nói với bạn, con chuột bạch à." Cô ta nói. "Cụ Behrman đã mất trong bệnh viện ngày hôm nay vì bị viêm phổi. Cụ mắc bệnh chỉ có hai ngày. Hôm đầu tiên ông quản gia tìm thấy cụ nằm trong phòng có vẻ đau đớn lắm. Giày dép, quần áo cụ ướt sũng và lạnh như đá. Họ không tưởng tượng ra được cụ ấy đi đâu, làm gì trong một đêm gió mưa khủng khiếp như vậy. Sau đó họ tìm thấy chiếc đèn lồng vẫn còn cháy sáng, một chiếc thang được kéo lê ra từ trong kho, mấy chiếc cọ còn dính sơn và một hộp sơn pha trộn hai thứ màu xanh và vàng. Và bạn thử nhìn ra ngoài cửa sổ kia, nhìn vào chiếc lá nho cuối cùng trên bức tường đó. Bạn không cảm thấy ngạc nhiên là tại sao nó chẳng lung lay động đậy gì trong cơn gió à? Nhỏ ơi, nó chính là cái tác phẩm lớn của cụ Behrman đó. Cụ đã vẽ nó vào cái đêm chiếc lá nho cuối cùng rơi xuống."

    Click here to enlarge
    O. Henry, bản dịch của Nguyễn Cao Nguyên

  2. #22
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Sắp 20/11 rồi, tặng các cô giáo, thầy giáo ở Hyec câu truyện cảm động này nhé.

    Một câu chuyện cảm động
    Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tai trường tiểu học của một thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ. vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".
    Chẳng những thế, cô thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém). Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm.
    Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được. Cô giáo chủ nhiệm lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh". Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu". Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ".
    Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp".
    Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xỉn mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa". Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, cô đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.
    Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em". Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em". Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời". Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard - giáo sư tiến sĩ.
    Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể. Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất. Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ". Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu: "Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chưa từng biết dạy học cho tới khi cô được gặp em".

  3. #23
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Câu truyện này không ngắn, nhưng lại là một trong những câu truyện lớn lên cùng tuổi thơ của Cat Click here to enlarge

    Chia sẻ cùng với bà con nhé, biết đâu đấy cũng có nhưng bạn thích truyện này giống mình Click here to enlarge

    Chú Bé Có Tài Mở Khóa
    » Tác giả: Nguyễn Quang Thân


    Phần thứ nhất

    Nam đưa trả mẹ tiền tàu, tiền ăn quà mẹ cho, và nói:

    - Mẹ ơi, con không đi thăm bố nữa đâu.

    - Sao thế con? Hay là con tôi ốm rồi?

    - Không phải mẹ ạ. Con đi vắng lâu, ở nhà ai nấu cơm cho mẹ. Với lại còn con thỏ đen, ai cắt cỏ, tìm lá cho nó?

    Mẹ vuốt tóc Nam:

    - Con tôi ngoan quá. Nhưng con không phải lo. Mẹ sẽ nuôi hộ thỏ. Con cứ đi chơi với bố nửa tháng rồi về ôn hè cũng vừa. Đây là quà thưởng của bố mẹ cho con. Năm vừa rồi con là học sinh tiên tiến của lớp 5A(1) mà.

    Nam rơm rớm nước mắt, thầm cám ơn mẹ rồi ra tàu đêm, về thành phố cảng thăm bố.

    Dạo này tàu khách rút bớt chuyến để dành đường cho tàu chở hàng từ cảng về thủ đô. Ngồi ở sân ga, Nam đợi mãi. Nhưng chỉ có những chuyến tàu hàng dài dằng dặc vút qua, bánh tàu dập ình ình trên đường sắt, vang động cả một khu ga mênh mông. Thùng sắt lớn bằng cả một gian nhà, xếp thành hàng trên những dãy toa trần. Sắt thép từng bó, máy cày đỏ chóe dưới nắng chiều. Lại một chuyến tàu nữa qua. Bông trắng từng kiện lè ra cửa sổ. Đoàn tàu hàng nào cũng dài, cũng nặng và bánh xe nghiến ầm ĩ trên đường sắt. Bao nhiêu hành khách đợi tàu, kẻ ngồi, người đứng, ai cũng sốt ruột. Cuối cùng, nhà ga thông báo: chuyến tàu khách từ Hà Nội về sẽ rời sân ga xuống thành phố cảng vào lúc mười giờ đêm.

    Mười giờ tàu bắt đầu chạy. Nam lên một toa đen, có ghế dài, ngồi thu mình bên cạnh mấy chú bộ đội trẻ và nghịch. Mẹ bảo rằng, đi tàu, đi xe cứ ngồi cạnh các chú bộ đội là yên trí nhất. Ai bắt nạt thì các chú ấy bênh vực. Lên tàu, xuống xe, các chú ấy thường giúp đỡ người già và trẻ con. Chẳng ai bắt nạt Nam, Nam cũng có thể tự mình lên xuống tàu. Nhưng Nam thích ngồi gần mấy chú là vì những khẩu súng còn mới, mới từ quai đến báng, đến nòng làm Nam mê mẩn.

    Hai giờ sáng, tàu đến ga Hải Phòng. Nam thấy tiếc, giá tàu cứ chạy mãi để Nam được ngồi gần mấy chú bộ đội. Nhưng phút chia tay đã đến rồi, các chú đưa Nam ra cửa soát vé, rồi sân ga. Các chú đi công tác ra đảo, phải ra bến Bính đợi tàu thuỷ đi Cát Bà. Đồng chí chỉ huy thấy mấy chú còn bịn rịn bên Nam liền nói:

    - Chuẩn bị, thành hàng!

    Chỉ đến khi đó tiểu đội lính mới dứt ra được khỏi Nam. Một chú lính vui tính bẹo tai Nam, nhoẻn cười:

    - Chào cậu cả. Nếu đường tối thì ở lại sân ga, sáng hãy về nhé.

    - Vâng ạ - Nam trả lời, cố làm ra giọng đường hoàng.

    Đã hai giờ sáng, tất nhiên là Nam chẳng về nhà làm gì, vừa làm bố mất ngủ, vừa sợ đường tối. Nam ngồi lại sân ga, dưới cái cột đèn cao áp giữa sân. Chú chỉ huy đưa tiểu đội lính đi. Nam nhìn theo và nghĩ lớn lên mình cũng sẽ như các chú ấy. Bây giờ thì hẵng ngồi lại đây đợi sáng.

    Đêm trên sân ga cũng vui như trên tàu. Nam ngắm nhìn tất cả mọi người, mọi hoạt động, ngắm cả những người ngủ gà ngủ gật dưới mái hiên đợi chuyến tàu sáng. Tàu hỏa, sân ga, thành phố... từ lâu là những thứ gợi lên trong lòng Nam những cảm giác thèm thuồng...

    Nam bỗng thấy bố mặc một bộ quần áo tây rất đẹp, chân đi giày đen, tươi cười bước lại gần Nam và nói:

    - Con ở nhà quê ra bao giờ vậy?

    Đúng là bố rồi, bố hay dùng tiếng "nhà quê" để chỉ làng Phượng Vỹ xinh đẹp và vui tươi của Nam. Cộp! Đầu Nam đập vào một vật cứng. Nam mở mắt ra. Thôi chết rồi, mình vừa ngủ gật, và bố chỉ là một giấc mơ ngắn. Một bàn tay mềm mềm vỗ lên vai Nam.

    - Chú mình ngủ gật mà say nhỉ?

    Nam giụi mắt. Một cậu bé hơn Nam khoảng hai, ba tuổi (nghĩa là độ mười bốn, mười lăm là cùng), đầu tóc cắt vừa phải, mặc chiếc sơ mi có túi, có cầu vai, ngắn tay, đang cho hai ngón tay cái chọc vào dưới thắt lưng, nghiêng đầu nhìn Nam miệng huýt sáo khe khẽ.

    - Em vừa trên tàu xuống - Nam lúng túng, muốn nói một câu gì đó để làm quen. Gương mặt của cậu bé kia rất khôi ngô, linh lợi, đẹp như một cô gái. Cậu bé nhìn nghiêng xuống phía chân Nam và đến lúc này Nam mới thấy rằng cậu ta ta hơi lé. Hơi lé một chút thôi, nhưng cũng gọi là lé.

    Cậu ta ngừng huýt sáo:

    - Này, lần sau thì đừng vội gì mà khai nhé. Có phải cái còi đâu. Chú mình đói hẳn?

    Quả thật, Nam đã thấy đói. Nhưng Nam trả lời:

    - Em không đói.

    - Nói dối rồi. Trông chú mình vã mồ hôi thế kia. Này, ngốn đi. Bánh còn nóng giòn đấy.

    Cậu ta đưa cho Nam nửa cái bánh mì. Còn nửa kia, cho vào miệng nhai. Trông ngon quá. Thật khó mà từ chối lòng tốt của cậu ta được. Vả lại, bánh mì... Bánh mì thì ở thành phố mới có thôi, thứ bánh vừa nóng vừa giòn ấy. Còn ở làng Phượng Vỹ người ta bán những que củi chứ không phải là bánh nữa. Nó vừa lạnh vừa khô không khốc. Nam cầm nửa cái bánh nhỏ, cũng cho vào mồm, nhai không kém ngon lành.

    Chú nhãi vừa ăn vừa ngắm Nam. Cứ cắn một miếng bánh, chú lại hát:

    Bé bé bằng gang

    Cắn một miếng nữa rồi lại hát:

    Đôi má vàng vàng

    Một miếng nữa:

    Bé đi câu cá

    Một miếng nữa:

    Cá câu cua càng...

    - Này, - cậu ta nói - chú mình đi đâu đó?

    Nam im lặng. Nam không phải là cái còi.

    - Tớ hỏi, chú mình đi đâu đó? Bây giờ tớ hỏi nghĩa là chú mình phải trả lời, nghe không? Có phải hội đuôi không?

    Hội đuôi là hội gì nhỉ? Nam chẳng biết trả lời thế nào.

    - Em ở nhà quê lên thăm bố. Em sợ, sáng mới về nhà.

    - Vậy hả? Thế chú mình tên là gì?

    - Em tên là Nam.

    - Nam gì mới được chứ? Như anh đây tên là Hùng, nhưng là Hùng Lé. Như thế mới gọi là tên chứ.

    - Em con bố Thành. Chúng nó gọi em là Nam Thành để khỏi nhầm với Nam con bà Linh, gọi là Nam Linh.

    - Nam Thành, quỷnh lắm. Không ra sao cả. Cứ gọi là Nam Quỷnh cho nó rồi. Như thế oai hơn, rõ chưa?

    Nam im lặng. Ai muốn gọi Nam thế nào thì gọi.

    - Bây giờ ăn bánh rồi, chú ngồi đây, ngồi đúng chỗ này. Tí nữa anh nhờ chú mày tí việc.

    Hùng Lé huýt sáo, bỏ đi. Bóng nó khuất vào đám người lố nhố trên sân ga.

    Nam ngồi chờ. Chờ mãi, nhưng không thấy Hùng Lé trở lại nữa. Thế mà trời đã sáng hẳn rồi. Nam chờ một lúc nữa. Hùng Lé vẫn không trở lại, Nam đứng dậy, vươn vai, đi ra cổng, bước vào đường phố còn ngái ngủ.

    Đường phố sạch sẽ hơn đường trong làng, nhưng lại khó nhận ra vì quá nhiều ngã ba, ngã tư. Nam đã đến nhà bố nhiều lần, vậy mà phải lạc mất hai bận mới tìm được đường phố quen thuộc. Chả là vì có một dãy xe cần cẩu mới tinh vừa đưa từ cảng lên che khuất mất lối vào. Nam đi qua mà không nhận ra. Nhưng rồi nó vẫn nhìn thấy ngôi nhà ba tầng đằng sau một dãy tường chạy dọc theo đường phố. Nó vào sân, bước lên cầu thang giữa, đi dọc một đoạn theo hành lang gác hai và đứng trước phòng của bố. Đúng là phòng của bố rồi. Trước cửa có một cái chậu rửa mặt cũ đổ đầy đất. Trong chậu trồng một cây đinh lăng bố mang từ vườn nhà lên. Còn cái cửa sổ thì không nhầm đi đâu được. Thành cửa có một vết dao như cái sẹo. Dạo Nam bảy tuổi, lên chơi với bố, Nam kề miếng gỗ vào thành cửa sổ đẽo cái súng diêm. Lưỡi dao chém nhầm vào thanh gỗ ngang phía dưới.

    Nhưng cửa đã khoá chặt. Trên ván cửa, một hàng chữ phấn viết vội: "Thành đi nghỉ mát, 25 tháng 6 mới về". Nam muốn khóc oà lên một tiếng thật to. Thế là không còn hy vọng gặp được bố. Bây giờ biết làm thế nào đây? May mà Hùng Lé cho nửa chiếc bánh mì không thì đói rã tay chân. Cái khoá bi còn mới như nói với Nam: "Xin lỗi bạn, bạn hãy đứng bên ngoài!".

    Nam quay người, xuống thang gác. Bây giờ chỉ còn mỗi việc là ra ga, mua vé rồi lên chuyến tàu chợ sẽ chạy vào quãng 4 giờ chiều nay để về nhà. Nhưng lấy tiền đâu mua vé nữa? Mẹ cho Nam đủ tiền tàu, xuống thành phố đã có bố lo cho ăn uống, lúc về thì bố mua vé tàu hay gửi Nam theo xe cơ quan về tận làng, còn lo gì nữa. Hai mẹ con đã không tính được chuyện bất trắc này. Số tiền còn lại trong túi chỉ vừa đủ mua một cái bánh mì thôi. Nam dừng lại góc đường mua bánh, nhưng chưa ăn, cho vào túi. Thôi, cứ ra ga hẵng hay. Người ta nói nếu không có tiền mua vé thì có thể chen vào, lên tàu rồi tìm cách trốn khi người ta soát vé. Cách ấy gọi là lậu vé. Nam thì chịu. Nam không hề làm những chuyện như thế bao giờ.

    Chỉ còn một hy vọng thế này nữa thôi. Ra ga, ngồi chờ và nếu như gặp một người quen nào đó cùng làng, nhất là một người bà con thì... Nam có thể vay tạm một ít tiền mua vé. Hay là... quay lại cơ quan bố? Ngượng chết đi được. Hay là hỏi vay tiền tàu của bác Nga, bà hàng xóm của bố? Bác ấy sẽ nghĩ như thế nào? Đúng rồi, thằng lỏi con chắc là bị mẹ đánh, bỏ nhà quê trốn lên với bố đây. Vào đây, vào đây... Và thế là bác ấy căn vặn, giảng giải... Không thể như thế được... Vừa nghĩ đến đó, chân đã bước tới sân ga. Nam ngồi xuống bực thềm nhà đợi, rút chiếc bánh, nhấm nháp từng miếng nhỏ, lòng buồn như chấu cắn.

    Là dân ở sân ga, mọi việc xảy ra trong khu đất lắm người và hàng hóa này đều không qua khỏi mắt Hùng Lé. Nó chỉ như một chiếc lá trong đám lá, một hạt thóc trong đống thóc, nhưng nó khác mọi người ở chỗ này: trong khi người ta không hề để ý gì đến nó thì nó lại để ý đến tất cả mọi người. Vì vậy, Nam Quỷnh vừa trở lại sân ga, Hùng Lé nhìn thấy ngay. Từ xa, dựa vào một gốc cây bàng nhỏ, Hùng lặng lẽ quan sát thằng bé nhà quê mà nó mất hút từ sáng sớm nay. Hồi sáng, nó định nhờ thằng bé làm một việc nhỏ, nhưng rồi không cần nữa. Thằng bé đã trở về kia rồi, đang ngồi nhai bánh ngon lành. Hùng thủng thẳng bước tới: - Trở lại hả? Sao chú mình không đến chỗ bố ? Hay là nói dối đấy?

    Nam mừng lắm. Dẫu sao cũng gọi là gặp người quen trong cảnh bơ vơ này. May ra Hùng Lé có thể giúp Nam việc gì chăng?

    - Em đến nhà bố, nhưng bố đi vắng, không vào được.

    - Vậy hả? Bố chú mình đi những đâu?

    - Bố đi nghỉ mát, một tuần nữa mới về.

    Hùng Lé nghiêng đầu bên này, rồi bên kia, hai ngón tay bật vào nhau tanh tách. Nó huýt một tiếng sáo miệng rồi hát:

    Bố đi mất đâu

    Bố đi lối nào

    Ngồi khóc, ngồi khóc Nhóc ơi là nhóc Giờ biết tính sao?

    - Bây giờ chú mình định thế nào hả?

    - Em đợi tàu về quê đây - Nam nói.

    Hùng Lé vỗ vai nó:

    - Quỷnh ơi là quỷnh! Sao chú mình ngốc thế hả? Cứ vào nhà bố mà ngủ, nấu cơm nấu mì ăn rồi rong chơi mấy ngày cho biết phố xá thì đã sao? Về quê làm gì? Chăn trâu à? Chăn trâu sao vui bằng bát phố hả?

    - Nhưng em không có chìa khóa! Em không vào nhà được.

    - Quỷnh ơi là quỷnh! Đi theo tao, tao mở cho mà vào.

    Hùng Lé kéo vai áo Nam, lôi nó đứng dậy.

    - Anh có chìa khóa đâu mà mở? Bố em cầm chìa cơ mà?

    - Bố chú mình gửi chìa khóa cho tao. Nhiều nhà trong phố đi đâu vắng đều gửi chìa khóa cho tao. Rồi chú mình sẽ biết, tao mở cho mà xem - Nó hạ giọng: -Nhưng hàng xóm có ai hỏi thì bảo rằng bố chú mình đưa chìa khóa nhé. Còn tao là anh họ, anh họ nhớ chưa? Tao tên là Hùng. Tao là anh họ chú mình đấy. Nam không còn đủ thì giờ để suy nghĩ nữa. Hùng Lé xốc nách nó bước ra cổng ga. Nam đi cạnh Hùng như một đôi bạn thân, về nhà của bố. "Phải đấy, ta sẽ quét dọn, lau chùi bàn ghế, đồ đạc cho bố. Bố về chắc là sẽ ngạc nhiên lắm. .."

    - Nam nghĩ.

    Bác Nga là người hàng xóm hay tò mò của bố Nam. Chẳng những hay tò mò mà bác còn thích tham gia vào chuyện người khác. Bác là nhân viên kế toán của cơ quan nọ, bây giờ bác về mất sức, thường làm nghề đan len để kiếm thêm tiền. Bác gặp Hùng và Nam ở cầu thang, gần phòng của bố.

    - Chào bác ạ! - Không tránh được bác, Nam chào vui vẻ.

    - Thằng Nam! Cháu lên bao giờ? Bố đi nghỉ mát rồi. Cháu vào nhà thế nào được?

    Nam lí nhí đáp:

    - Bố cháu đưa chìa khóa cho cháu, cháu sẽ ở đây rồi đợi bố cháu về.

    - Vậy hả? Nhưng phải cẩn thận đấy, đi đâu là phải khóa kỹ, nghe chưa?
    - Vâng ạ.
    Lần đầu tiên Nam nói dối. Nó thấy tai nóng dừ lên vì xấu hổ.

    - Cậu nào đây? - Bác Nga tò mò.

    - Cháu là Hùng, anh họ ạ. - Hùng lễ phép nói.

    - Anh họ cháu - Nam ngập ngừng.

    - ở quê ra hả? Cẩn thận nhé, đi đâu là phải khóa cửa ngay. Thôi, bác đi chợ đã.

    Hai anh em không gặp ai trong cầu thang và hành lang nữa. Mọi người đều đi làm. ở các gian nhà khác người ta khóa cửa, nhốt trẻ con ở trong.

    Hùng Lé nhìn ổ khóa. Nó bật ngón tay cái tách: - Vừng ơi, mở cửa. Vừng ơi... mày biết chuyện ấy không hả Nam? Truyện A-li Ba-ba ấy mà? Vừng ơi, mở cửa... thế là cái cửa hang bằng đá mở ra cho bọn cướp vào.

    Nó vừa huýt sáo vừa rút trong túi ra một chùm chìa khóa. Nam chưa bao giờ nhìn thấy một chùm chìa khóa như vậy, hình như ở đấy có mọi loại chìa khóa trên đời. Hùng lúi húi một chốc bên cái ổ khóa, và... một tiếng tách nhỏ, cái khóa bật ra. Cửa mở. Một mùi ẩm mốc mát lạnh. Nam khoan khoái bước vào nhà bố - nhà của mình.

    - Tao còn là Hùng-vạn-năng nữa kia đấy, chú mình ạ. Nhưng tao thích cái tên Hùng Lé hơn. Hùng Lé, oai hơn phải không chú mình? Chà, nhà bố chú mình

    mát quá. Nhưng bố chú mình nghèo thật đấy. Trong nhà chẳng có cóc khô gì cả!

    Nam chẳng hề để ý xem bố giàu hay nghèo. Nó hồi hộp nhìn thùng đựng gạo của bố. Nó mở nắp thùng ra. May quá. còn những nửa thùng. Rồi nó nhấc chiếc bếp dầu dưới nhà lên. Dầu sóng sánh ra tay nó. Vậy là tuyệt rồi.

    - Em nấu cơm, anh Hùng nhé!

    - Phải đấy, nấu cơm mà ăn. Còn tao không ăn đâu. Tao ăn quán quen rồi. Cũng có nhiều lúc đói như mẻ, nhưng bây giờ thì no căng, no như quả bóng thế này này. Chà, nhà bố chú mình nghèo quá, chẳng có cái cóc khô gì cả. Nhưng được cái mát thật, tao chợp mắt tí đây.

    Nam đã nấu xong cơm. Không có tiền mua rau, nhưng trong chạn bố còn tôm rảo kho đường. Bát đũa thì rất sẵn. Mỗi lần lên thành phố thăm bố, thế nào mẹ cũng mang theo một bó đũa, mẹ ngồi vót đũa những lúc rỗi rãi, những đôi đũa mẹ vót bằng gốc tre đực, bóng như đũa mun. Mẹ vẫn thường nói: "Tội nghiệp bố, nấu ăn lủi thủi một mình!". Mẹ biết rằng bố còn bận công tác, bố không thể chuyển về nhà quê làm việc được. Bởi vì bố là kỹ sư đóng tàu thuỷ, bố về xã làm gì? Nghe nói nhà máy đóng tàu của bố rộng mênh mông, bố và các chú công nhân đang đóng những con tàu hàng ngàn tấn.
    - Anh Hùng ơi, dậy ăn cơm đi!
    Hùng Lé bật dậy, hốt hoảng;
    - Chết rồi! Tao ngủ đã lâu chưa hả chú mình? Bây giờ là mấy giờ rồi nhỉ?

    - Chưa đến mười một giờ đâu. - Nam nói.

    - Thôi được, không sao. - Hùng nhìn nồi cơm, đĩa tôm kho đường: - Mày nấu cơm gạo quê à? Thơm điếc cả mũi. Ngon đấy, sáng nay tao ăn hết một xỉa mà bây giờ đã đói rồi.

    - Một xỉa là gì hả anh?

    - Là mười đồng ấy mà. Rồi mày cũng biết những thứ đó ngay thôi. Nhưng mày ăn cơm đi chứ!
    - Cả anh ăn nữa.
    - Không, tao chỉ ăn một con tôm thôi. Tao phải ra ga đây. Chậm chút nữa là Râu Xồm nó luộc tao chín như khoai ấy.
    Hùng ăn một con tôm và ra đi. Nam nghe tiếng huýt sáo dọc cầu thang. Nó cầm bát cơm lên ăn, vừa ăn vừa suy nghĩ. Hùng Lé là người thế nào? Nó có vẻ tốt mà vẫn thế nào ấy. Nhất là thỉnh thoảng nó nói ra những tiếng lóng nghe chối tai không chịu được. Nhưng không có Hùng Lé thì từ sáng đến giờ mình biết xoay xở thế nào? Dù sao thì cũng phải cám ơn nó, nó chê mình quỷnh là phải. Mình thì ngố, còn nó lại tài ba làm sao!

  4. #24
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Chú bé có tài mở khóa (Tiếp theo)

    Nam khép cửa, đưa bát ra phía nhà tắm để rửa. Lúc trở về phòng, nó đi qua một cánh cửa sổ mở toang. Hai cái trán trẻ con dựa vào song cửa, mớ tóc con gái rủ lơ thơ. Nam nhớ ra rồi, đây là bé Liên và bé Hương, hai đứa trẻ sinh đôi của nhà bác Thịnh. Năm ngoái Nam ra chơi, chúng còn bé tí, vậy mà bây giờ đã ra dáng học sinh lớp một rồi. Nhà bác Thịnh giàu, rất giàu nữa là khác. Người trong dãy nhà ba tầng này nói thế. Bố cũng bảo thế. Bác Thịnh trai là quản đốc phân xưởng, bác thường được đi nước ngoài tham quan người ta đóng tàu. Bác gái đi học ở Đức về, nay làm giám đốc một nhà máy làm sợi len. Trong nhà bác Thịnh, toàn là những thứ đồ đẹp cả. Nào quạt, nào máy truyền hình, nào quần áo len dạ, xe máy nữa. Nhà có nhiều đồ đạc như thế nên khi hai bác đi làm, bé Liên và bé Hương đều bị nhốt. Bác Thịnh trai - tính rất cẩn thận -đã khóa cửa bằng một cái khóa đồng to tướng mua tận Tiệp Khắc. Như vậy là chắc chắn lắm rồi. Lũ trộm chỉ còn ngồi bên ngoài mà khóc thôi. Chỉ có Liên và Hương là tội nghiệp. Giá như con nhà khác thì chúng đã được giao chìa khóa, muốn đi đâu chỉ việc khóa cửa lại, tha hồ mà chơi. Nam đặt rổ bát xuống hành lang, lại bên cửa sổ.

    - Meo, meo... - nó làm tiếng mào kêu và bẹo vào mũi bé Liên.

    - Anh Nam, mở cửa cho em ra với.

    Chúng em bị nhốt từ sáng đến giờ rồi -Liên nũng nịu. Nó vẫn bị Nam gọi là Liên mèo từ năm ngoái.

    - Anh chịu thôi. Anh có chìa khóa đâu.

    - Hay là anh bắt hộ em con chuồn chuồn đậu trên hành lang kia - bé Hương, giống Liên như đúc một khuôn, nói.

    - Được, để anh bắt cho.

    Nam thè lưỡi, nín thở, đưa tay ra, nhưng con vật bé bỏng mà khôn ngoan đã bay sang đậu một chỗ khác cách đó dăm mét. Chuồn chuồn có cánh thì bay... Tiếng Hùng Lé nói sau lưng Nam. Có lẽ nó về lúc Nam đang lúi húi rửa bát đĩa. Hùng nhanh như một con chồn, nó lần theo bức tường, một nháy mắt, con chuồn chuồn đã nằm trong tay nó.

    - Cho em, cho em.

    Hai cánh tay đưa ra cửa sổ. Hùng Lé bước lại, đặt con chuồn chuồn đã bị hớt mất một mẩu cánh vào tay bé Liên. Nó nhoẻn cười với hai đứa trẻ đang vui như hội và nhìn qua song cửa, mắt bỗng sáng lên như có một tia nắng chiếu vào. Nhưng tia sáng ấy lại tắt ngấm ngay.

    - Về đi!

    Nam nói và kéo tay Hùng Lé về nhà bố.

    Cửa lớn khép hờ, Nam giật mình: trong nhà có ai đó. Nó định thần lại và nhìn thấy một thanh niên vạm vỡ, râu quai nón phủ kín hai bên má, từ dưới tai kéo xuống tận cằm. Mái tóc anh ta không để dài mà cắt cao, nhưng vì bộ râu, vì đôi lông mày rậm, trông anh ta dữ tợn như đang muốn đánh ai.

    - Vào đây em, vào đây!

    Nam ngạc nhiên vì nó nghe thấy tiếng anh thanh niên gọi nó một cách dịu dàng, thân ái nữa. Dưới chân anh ta là một bao tải trong đựng thứ gì có vẻ nặng lắm. Phút chốc Nam tưởng như anh ta là một anh thợ hiền lành vừa đi làm về. Mặt anh khó đăm đăm có lẽ vì anh quá mệt.

    - Em cất bát rồi ngồi xuống đây, anh bảo - anh ta nói tiếp, vẫn với giọng rất dịu dàng.

    Hùng Lé khép cửa. Nó ngồi xuống mép giường của bố. Trông nó không được nhanh nhẹn như khi có hai đứa với nhau. Nam cảm thấy Hùng sợ anh thanh niên lạ mặt này lắm. Anh ta bảo Hùng:

    - Hùng, giới thiệu chú với bạn Nam đi.

    - Đây là chú ruột tớ - Hùng nói, vẻ miễn cưỡng.

    - Thế đấy - anh thanh niên nói - Vậy là từ nay ta thành chú họ của cháu, Nam ạ. Chú tên là Sáu, làm nghề thợ điện cùng một nhà máy với bố cháu, nghĩa là cái nhà máy trước đây, khi bố cháu vừa học ở nước ngoài về cơ, bây giờ bố cháu chuyển sang nhà máy khác rồi. Nghe Hùng kể chuyện, chú mừng lắm. Vậy mà đã năm sáu năm, chú không gặp bố cháu. Còn trước kia thì quấn quýt nhau như hai anh em vậy. Chả chú là cây sáng kiến của nhà máy mà. Còn bố cháu là một kỹ sư giỏi. Có những người bề ngoài rất khó coi, hung dữ nữa là khác, nhưng bên trong thì rất lành. ở làng Phượng Vỹ có một ông già quắc thước dữ tướng như hùm, nhưng chiều chuộng trẻ con hết mức. Chú Sáu này có thể là một người như vậy chăng?

    - Trời ơi, trông cháu giống bố như hai giọt nước vậy. Lại đây chú cho quà.

    Anh ta kéo Nam lại, xoa đầu Nam rồi rút trong túi ra một phong kẹo lạc.

    - ăn đi cháu.

    Nam cầm phong kẹo, đưa mắt tìm Hùng Lé, nhưng nó đã biến đâu rồi. Hùng đi đâu? Nó cứ nhanh như con chồn, thoắt ẩn thoắt hiện không biết đâu mà lường được. Anh thanh niên lấy lại phong kẹo, bóc ra, ăn một thanh rồi đưa cả cho Nam. Nam lấy một thanh, ăn ngon lành.

  5. #25
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Chú bé có tài mở khóa (Tiếp theo)



    Trong khi Nam ăn kẹo thì anh thanh niên đi lại trong gian phòng, nhìn rất kỹ bức ảnh của bố, những tờ tranh bố treo trên vách, miệng lẩm bẩm: "Chà, trông bố cháu thay đổi nhiều quá đi mất. Chắc là công việc vất vả lắm!". Rồi anh ta ngồi xuống bàn viết của bố, đưa mắt đọc những tờ giấy bố đang viết dở, lật mấy tờ lên, rút ra một quyển vở, giở ra một cách lơ đễnh nhưng vẫn có ý tìm tòi một cái gì. Rồi anh đặt xuống.

    - Nhà chú ở xa lắm, tận bên Thủy Nguyên cơ. Chú làm ở thành phố nhiều khi hàng tuần mới về. Đi làm về chú thường đến nhà những người bạn thân ở nhờ, nhiều khi ngủ trưa trong nhà máy. Giá mà chú biết bố cháu ở đây thì khéo chú đã đến ở với bố cháu cho vui. Nhưng được, bây giờ bố cháu đi vắng, chú sẽ ở với cháu mấy hôm cho cháu đỡ buồn và đỡ sợ. Cháu biết không, - anh hạ giọng - ở thành phố không như trong quê cháu đâu. Trộm cắp nhiều lắm, cháu ở đây một mình chẳng có lợi chút nào.

    Nam cảm thấy chú Sáu muốn nói, nói rất nhiều về tình cảm sâu nặng của chú đối với bố. Nhưng sao chú có vẻ tò mò như thế nhỉ? ở nhà Nam, đã thành thói quen, Nam, bé Việt và cả mẹ nữa, không ai ngồi vào bàn, lục lọi hay tò mò đọc những thứ bố viết như thế. Có lẽ ở nhà chú này thì khác chăng?

    - Cháu ăn nữa đi.

    - Dạ đủ rồi ạ - Nam mở ngăn kéo, cho gói kẹo ăn dở vào.

    - Bây giờ chú tranh thủ ngủ một chút để chiều còn đi làm. Đúng một giờ rưỡi nhớ thức chú dậy nhé. Nếu Hùng về thì

    bảo rằng chú đã đi, chiều chú về đây, cả mấy chú cháu ăn cơm rồi đi xem hát.

    Trong khi nói như thế, đôi mắt anh ta không rời Nam cũng như mọi vật trong phòng, đôi mắt thỉnh thoảng lại sáng lên, trông như mắt mèo. Chờ "người chú họ" thiu thiu ngủ, Nam mở cửa ra ngoài. Nó muốn tìm một chỗ vắng nào đó để suy nghĩ, để bình tĩnh trở lại, vì quả thật, sự xuất hiện của người chú họ không quen biết này làm Nam thấy rối trí quá. Nó cẩn thận bóp khóa vào rồi bước dọc hành lang.

    Nó nhìn thấy Hùng Lé đang đứng bên cửa sổ nhà bác Thịnh nói chuyện và đùa nghịch với hai cô bé sinh đôi. Hai đứa trẻ tỏ vẻ quyến luyến và khâm phục Hùng sau khi nó bắt hộ con chuồn chuồn. Còn Hùng thì đang lấy giấy gấp cho chúng những thứ đồ chơi vặt: con chim, cái thuyền, cái quản bút. Thấy Nam, Hùng lúng túng đặt các thứ xuống thành cửa sổ.

    - Bố chúng mày sắp về đấy! - Hùng Lé nói và kéo Nam đi khỏi cửa sổ.

    Nam thấy ghen tị. Hùng như không muốn Nam chơi đùa với hai đứa trẻ. Cả hai cô bé cũng như quên bẵng Nam, rõ là chúng đã bị Hùng lôi cuốn vì những trò chơi thú vị, những con giống bằng giấy. Đúng một giờ rưỡi chiều, không đợi Nam đánh thức, "người chú họ" bật dậy. Anh ta lấy tay giụi mắt, tự rót nước trắng trong chai của bố uống một cốc đầy, chụp lên đầu cái mũ cối đã tàng, đeo một đôi kính đen to tướng rồi đứng trước gương ngắm nghía. Anh ta chợt thấy râu quai nón tua tủa quanh cằm liền lấy dao cạo (bố vẫn để dao trước gương, trên một tấm kính nhỏ). Cái dao bào bừa trên đám râu cứng kêu sồn sột nghe ớn cả người.

    - Hùng đâu rồi? - Anh ta vừa cạo râu vừa nhìn vào gương hỏi Nam lúc đó đang ngồi trên mép giường phía sau anh ta.

    - Đi rồi ạ.

    - Tốt.

    Cạo râu xong, anh ta đẩy cái bao

    tải vào tít gầm giường, nói:

    - Có mấy thứ đồ nghề của chú gửi cháu. Nhớ đừng có nghịch nhé.

    - Dạ.

    - Tốt.

    Rồi anh ta đi ra, không quên khép kín cửa.


    Nam lăn ra giường. Mệt quá. Cả một đêm không ngủ, rồi bao chuyện lại xảy ra từ sáng sớm đến giờ làm đầu óc nó mụ mị đi. Nó không thể bình thản được khi sực nhớ ra rằng đây không phải là làng Phượng Vỹ của nó. Đây là thành phố, có hằng hà sa số người sống chen chúc trong những ngôi nhà san sát như bát úp, trên một khoảng đất chật hẹp. ở làng, đi ngủ thường ít khi phải đóng cửa. Ban ngày người ta đi làm đồng, cửa ngõ, đồ đạc cứ bày ra đấy. Bất kỹ người nào vào nhà đều được mời uống nước, hút thuốc. Ai đói, người làng sẽ mời ăn cơm. Ai nhỡ đường sẽ được nhường chỗ ngủ. Chính các chú công an xóm sau khi xem giấy tờ sẽ sắp xếp chỗ ăn ở cho những người khách lạ ấy. Ai từ biệt làng Phượng Vỹ cũng luyến tiếc, nhớ nhung. Hùng Lé đã nhường bánh cho Nam ăn ở sân ga, đã chỉ vẽ cho Nam những điều bỡ ngỡ. Hùng đến nhà, Nam phải đối xử với Hùng như bạn bè. Nhưng còn "người chú họ" kia là ai? Mà thôi, nghĩ vớ vẩn như thế để làm gì khi chưa có gì xảy ra cả. Thật thế, có hai người khách đến nhà Nam và bây giờ họ đã ra đi. Họ chưa làm gì xấu cả. Nam cũng phải ngủ một giấc đây, ngủ bù cho đêm qua và sáng nay vất vả. Ngủ trong nhà của bố sau khi no bụng thì có gì phải nói nhỉ? Cửa khép lại rồi, chỉ còn cài then bên trong nữa thôi.

  6. #26
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Chú bé có tài mở khóa (Tiếp theo)

    Nam tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài và say sưa. Thật không còn biết trời đất gì nữa. Mẹ thường nói: "Ngủ say như củ khoai" là vậy đấy. Gian nhà hơi tối, nhưng mát rượi. Nắng trưa không lọt vào chỗ nào được. Nam mở cửa sổ phía hồi nhà. Mọi vật như cùng tỉnh dậy với Nam, những vật quá quen thuộc, vẫn nằm yên chỗ cũ, từ ngày nào Nam không còn nhớ nữa. Nam cúi nhìn xuống gầm giường. Chiếc bao tải "đồ nghề" của chú râu quai nón vẫn còn đó. Nam ra cửa lớn, đưa tay kéo cái chốt. Nó đẩy cửa để ra ngoài. Nhưng sao thế này? Một cảm giác lành lạnh chạy từ gáy dọc theo sống lưng nó. Không thể nào mở được cửa. Nó hiếng mắt nhìn qua chút khe hở và hiểu ngay: cửa đã khóa ở bên ngoài. Ai đã khóa trong khi Nam ngủ? Hay là chú râu quai nón? Không, lúc chú ấy ra đi không nghe thấy tiếng bóp khóa. Thật ngu, lúc đi rửa bát về Nam lấy chìa ở Hùng để mở cửa rồi quên khuấy, cứ để cái khóa và cả chìa lủng lẳng đó. Vậy thì có ai đã nghịch ngợm khóa Nam lại, để dạy cho Nam một bài học đây. Chưa chắc. ở khu tập thể này chẳng có ai nghịch ngợm như thế. Nếu thấy Nam quên khóa ngoài cửa, họ sẽ gọi và đưa cho Nam ngay. Vậy thì ai?

    Nam nghĩ đến Hùng Lé, đến "người chú họ" râu quai nón, và cảm giác lạnh dọc xương sống càng tăng lên. Hay là... Phải, Nam thấy lóe lên trong đầu một dự đoán đáng sợ. Họ muốn mình phải ở trong nhà, không được đi đâu. Hay là trong chiếc bao tải kia có những thứ quý giá và đắt tiền đến mức người ta phải cẩn thận như vậy?

    Nam áp tai vào cửa nghe ngóng. Không có gì đáng ngờ. Nó rón rén lại phía giường, chui vào, kéo cái bao tải ra. Cái bao nặng quá chừng, phải cố hết sức mới kéo ra được chỗ sáng. Nam mở sợi dây, cho tay vào trong bao. Vòng bi! Một bao tải vòng bi, dễ có đến hàng trăm chiếc. Nam hiểu ngay đây là những chiếc vòng bi đáng ngờ. Không ai giao cho người thợ điện như ông "chú họ" râu quai nón này một số vòng bị nhiều như thế.

    Nó từ từ đẩy chiếc bao tải vào chỗ cũ, lại ghế ngồi, suy nghĩ. Có thể chú ấy đưa vòng bi đi chữa cho nhà máy? Có thể chú ấy đi mua về? Nhưng tại sao lại khóa cửa lại? Nam nửa tin nửa ngờ, không biết thế nào là đúng. Bây giờ có lẽ còn một việc cần làm là hô hoán lên cho hàng xóm biết rằng Nam đang bị nhốt. Không, không nên ầm ĩ như vậy trong khi chưa có chuyện gì xảy ra. Có lẽ mình đã dại dột khi đưa Hùng Lé về đây. Bây giờ tốt nhất là cứ nằm ngủ mà đợi vài tiếng đồng hồ nữa. Hùng Lé hay "người chú họ" sẽ trở lại và lúc đó hẵng hay. Nó lại nằm xuống giường nhưng không tài nào chợp mắt được. Có tiếng nói chuyện lào xào đâu đây ngoài hành lang. Ngố thật, - Nam nghĩ bụng - hồi nãy mình định kêu lên, nhưng kêu thì có ai thưa. Dọc hành lang chẳng nhà nào có người ở nhà. Còn lũ trẻ thì đều bị nhốt, đứa thì ngủ, đứa đang nấu ăn hay chơi với nhau trong nhà. Ai nói chuyện đấy nhỉ? à, có lẽ là bé Liên con nhà bác Thịnh. Nam rón nhẹ chân lại phía cửa. Nó áp tai vào tấm ván, cố nghe.

    - Anh Hùng ơi, mở cửa cho chúng em ra ngoài chơi mấy!

    - Suỵt, nói khẽ chứ.

    - Anh phải mở cho em ra cơ.

    - Được rồi, để mở cho. Phải khe khẽ nhớ.

    Nam nghe những chiếc chìa khóa va vào nhau lách cách. Có lẽ Hùng vẫn chưa mở được cửa. Hùng mở để làm gì? Tốt nhất là mình lên tiếng để Hùng biết rằng mình đã biết nó đang mở cửa.

    - Hùng ơi, mở hộ tôi nữa mấy!

    Nam cố hét thật to.

    Có tiếng lách cách. Cửa mở ra thật và "người chú họ" bước vào như một cơn gió đen rồi đóng ập cửa lại. Anh ta ăn mặc hoàn toàn khác lúc ra đi. Quần áo bộ đội cũ, chân mang dép cao su, đầu vẫn đội cái mũ cối ấy và không đeo kính râm. Trông anh ta không còn dữ tợn như trước nữa. Cả bộ râu quai nón hình như cũng biến mất.

    - Chú Sáu! - Nam nói, giọng lạc đi.

    - Không chú cháu gì hết!

    Anh ta đưa hai cánh tay như hai cái gọng kìm quặp lên vai Nam, ấn nó ngồi xuống chiếc ghế thấp trong góc phòng.

    - Ngồi xuống đây và im mồm, nghe không, thằng nhãi!

    Hắn dằn từng tiếng khi nói câu đó và trong nháy mắt Nam hiểu ngay việc gì đang xảy ra. Nó cố vùng dậy dưới hai bàn tay như vuốt đang cố ghìm vai nó xuống rồi kêu to:

    - Liên ơi, đừng mở cửa...

    Một cái tát như trời giáng làm Nam tối tăm mặt mũi. Nó loạng choạng nhổ xuống nền nhà một bãi nước bọt đầy những máu. Bàn tay phải của "người chú họ" đang dứ dứ trước mặt nó, và qua những tia đom đóm mắt nhì nhằng Nam nhìn thấy một khẩu súng ngắn, cái nòng đen ngòm.
    - Im mồm!

    Hắn ấn Nam ngồi xuống, ung dung thả khẩu súng vào túi quần.

    Cửa mở. Một người khác, không to lớn bằng "người chú họ", ăn mặc như những thanh niên Nam vẫn thấy lang thang ngoài đường phố, đẩy Liên và Hương vào nhà. Cả hai đứa đều nước mắt nước mũi đầm đìa, hai má phồng to. Nam nhìn thấy trong mồm chúng cả một đống giẻ to tướng. Có lẽ là những chiếc khăn rửa mặt.

    - Bịt mồm thằng này nữa!

    Sáu hất hàm và thằng kia lấy ngay cái khăn của bố nhét chặt vào miệng Nam rồi trói mỗi đứa vào một chiếc ghế. Bé Liên và Hương nhìn Nam không chớp. Nam cảm thấy chúng nó đang trách móc Nam và tim chú se lại vì hối hận. Nhưng không có cách gì nói chuyện với hai cô bé được nữa rồi. Nếu không có cái khăn mặt này thì nhất định Nam sẽ kêu toáng lên rồi ra sao thì ra!

    - Cho tất cả sang đây rồi khoá cửa lại như cũ!

    Sáu ra lệnh. Thằng kia đi ra rồi trở lại ngay cùng với đồ đạc nhà bác Thịnh. Đầu tiên là cái quạt Nhật mạ kền sáng loáng, chiếc va li, một túi ni lông không biết chúng đã nhét đầy những thứ gì, một bó nữa, một bó nữa...

    - Thằng Xám vẫn canh dưới cầu thang đấy chứ?

    - Còn dưới đó, anh Hai à.

    - Xe đến chưa?

    - Dạ rồi. Có mỗi chiếc xe bò thôi, anh Hai.

    - Đưa xuống rồi vù thôi. Đến 162 nghe không?

    Chúng nó thay nhau mang các thứ chạy sầm sập xuống cầu thang. Nam không thấy Hùng đâu cả. Có lẽ nó đang đứng canh gác ở đâu đó. Khi mớ đồ đạc đã chuyển đi hết rồi, Sáu là người đi cuối cùng. Hắn có vẻ vui, bóp bóp nhẹ vào miệng Nam và hai cô bé rồi nói: - Để xem ba cái khóa miệng có chắc không nào?

    Hắn nhét vào tay mỗi đứa một chiếc kẹo giấy bóng.

    - Chịu khó ngồi một chốc, các "cháu yêu" nhé. Rồi bố mẹ sẽ về ngay thôi mà, lúc đó tha hồ mà ca hát.

    Nam buông tay cho cái kẹo rơi xuống đất. Thằng Sáu đi ra, đóng cửa nhẹ nhàng, rồi có tiếng khóa lách cách bên ngoài. Nhưng hắn quay lại. Hắn cúi xuống gầm giường lôi cái bao tải ra:

    - Suýt thì quên mất món sò huyết -hắn nói, cho bao tải lên vai, ra khỏi phòng, khóa lại như cũ.

  7. #27
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Chú bé có tài mở khóa (Tiếp theo)

    Nam cố vùng vẫy để làm tung sợi dây, nhưng không có cách gì được. Gian phòng tối om, im ắng. Nam đoán thế nào Liên và Hương cũng khóc, nhưng nó không nhìn được rõ nét mặt của hai đứa mà cũng chẳng nghe thấy tiếng sụt sịt nào. Hay là chúng nó đã lịm đi vì mệt và sợ? Ngộ nhỡ chúng bị ngất đi thì sao? Biết làm sao bây giờ? Có cách nào tự cởi được sợi dây thì sẽ ổn tất cả. Nhưng sợi dây là sợi dây. Nam đâu biết rằng nó đã bị trói bởi hai bàn tay của Muỗi Vằn. Những cái nốt buộc của hắn đã từng nổi tiếng trong đám trộm cắp kiếm ăn quanh bến cảng.

    "Tất cả chỉ tại mình hết - Nam nghĩ. - Bác Thịnh bị mất trộm hết của cải là vì mình đưa Hùng Lé về nhà. Bé Liên và bé Hương bị đánh, bị đày đọa, vì mình, vì mình hết!" Nam thấy hết sợ, nhưng nó khóc vì hối hận và nhục nhã... Rồi nó lịm đi lúc nào không biết. Những tiếng kêu khóc om sòm đánh thức cả ba đứa dậy (hai cô bé không phải bị ngất mà vì sợ đã lịm đi trước Nam). Nam chỉ còn biết cựa quậy để cho Liên và Hương biết rằng mình đang còn ở trong phòng với chúng nó. Gian buồng nhỏ tối như hũ nút vì ngoài trời đã về chiều. Chắc là mọi người đi làm về, đã phát hiện ra vụ trộm. Bước chân chạy thình thịch ngoài hành lang, tiếng nói chuyện râm ran, tiếng chép miệng của ai đó. Nổi bật nhất trong mọi thứ ồn ào là tiếng kêu khóc của bác Thịnh gái. Nam thấy bác không kêu rên vì mất của mà chỉ vì lo cho hai đứa bé của bác. "Khốn khổ con tôi, tội nghiệp con tôi, chúng đã giết chết con tôi mất rồi! Hu, hu..." Bác Thịnh trai bây giờ đang làm gì? Bác đi trình công an hay đang ngồi thừ trong gian phòng trống trơn không nói không rằng gì hết? "Trời ơi, khốn khổ con tôi!"... Tiếng bác Thịnh gái lại gào lên, nghe cào xé cả gan ruột. Nam thấy thương bác quá, nó muốn hét to: "Chúng cháu ở trong này cơ mà!" nhưng nó chỉ ú ớ được như người mơ ngủ. Rồi cả Liên và Hương cũng ú ớ. Chắc chúng nó đã nghe thấy tiếng mẹ bên ngoài hành lang, chúng cũng đang hét lên trong miếng giẻ: "Mẹ ơi, chúng con ở trong này cơ mà!". Chốc chốc lại nghe thấy tiếng bác Nga: "Tôi đã biết mà, thế nào cũng có chuyện! Chúng nó còn bắt cả thằng Nam con anh Thành đi nữa kia. Thằng bé cũng biến đâu rồi không biết!".

    Tiếng người mỗi lúc một nhiều. Chắc là người ta đang bâu kín gian phòng bác Thịnh, ùn chật hành lang. Có nhiều người đứng ngay trước cánh cửa phòng bố. Nhưng chẳng ai biết trong phòng đang có ba đứa trẻ bị nhốt cả. Nam thấy sợ. Đến ngày bố về, người ta mới tìm thấy chúng thì sao? Không biết một tuần nữa cả ba sẽ trở thành cái gì?

    - Này, im lặng hộ một chút xem nào! Có tiếng đàn ông lạ nói khá to bên kia cánh cửa. Tiếng ầm ĩ có bớt đi, nhưng vẫn rì rầm như ở chợ.

    - Nào, giãn ra, giãn ra, tôi nhờ một tí...

    Tiếng người đàn ông hồi nãy lại nói. Người ta im lặng thật và Nam nghe rõ tiếng ai đó thở vì hồi hộp. Ngu thật! Nam tự trách mình. Sao hồi nãy đến giờ không vật mình cho ngã xuống? Nó làm ngay và dùng hết sức kéo cái ghế đổ theo. Mấy cái chai trên bàn lăn xuống vỡ toang.

    - Đúng là có người bên trong!

    - Khéo bọn trộm còn ở trong đó cũng nên.

    - Lùi ra, chúng nó có súng đấy!

    - Tôi đã bảo mà!

    Nam nghe thấy tiếng bác Nga và sau câu nói đó có tiếng guốc đi nhanh xuống cầu thang. Chắc là bác ngại lũ trộm có súng.

    - Phá cửa ra thôi!

    Người ta nện vào cửa mấy nhát búa và Nam bỗng thấy tối tăm mặt mũi. ánh sáng ùa vào cùng với mấy người đàn ông. Nó định thần lại. Một chú công an đang cúi xuống cởi trói cho nó.


  8. #28
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Chú bé có tài mở khóa (Tiếp theo)

    Trong phòng chỉ còn hai chú cháu. Không phải chú công an hôm nọ, mà là một chú khác, mặc quần áo thường, trạc tuổi với bố và hơi giống bố.

    - Cháu ăn kẹo đi. Đêm qua cháu ngủ được chứ?

    - Dạ, cháu ngủ say lắm.

    Một chiếc chuồng chim nuôi hai con hoàng yến treo bên cửa sổ. Chúng đang rỉa cánh cho nhau. Phía sau cửa là mái nhà lợp ngói nhấp nhô như sóng biển. Xa kia là khoảng trời xanh như màu thuỷ tinh trong veo. Buổi sáng mùa hè ở thành phố cảng làm Nam tỉnh táo hẳn. Gió ùa vào phòng lật những tờ lịch nhỏ như cánh bướm.

    - Chú cháu mình làm việc nhé. Cháu có đồng ý không?

    - Vâng ạ.

    - Bây giờ cháu hãy kể lại chú nghe, chuyện xảy ra thế nào nhỉ? Cháu ở quê lên đêm hôm kia phải không?

    - Dạ.

    - Vậy là đêm mồng bốn tháng sáu. Sau khi nghỉ hè được ba hôm à?

    - Vâng ạ.

    Không cần chú hỏi, Nam vẫn có thể kể lại tỉ mỉ và tuần tự những việc xảy ra không bỏ sót một chi tiết nào.

    Chú cán bộ đứng dậy, châm thuốc hút. Chú bước lại bên cửa sổ đứng nhìn những mái nhà nhấp nhô rồi quay lại nói:

    - Đáng lẽ cháu không nên đưa Hùng Lé về nhà. Nếu không làm nghề chữa khóa thì những ai mở cửa nhà người khác bằng chìa của mình đều đáng ngờ cả.
    Chú đi lại cái tủ, lấy ra một tập hồ sơ. Trong tập hồ sơ có một chiếc phong bì dày, đựng toàn ảnh. Chú rút ra từng chiếc một và đưa tới trước mặt Nam:

    - Cháu có nhận ra ai đây không?

    - Dạ, không ạ. Cháu không quen người này.

    - Còn đây?

    - Cháu cũng không biết ạ.

    - Đây nữa?

    - Cũng không ạ.

    Bao nhiêu tấm ảnh như thế, Nam không đếm được, chỉ biết là rất nhiều, nhiều lắm.

    Chú công an quẳng tập ảnh xuống bàn, thở dài:

    - Thế là câu chuyện có phần phức tạp đấy cháu ạ. Này, cháu bảo lúc trở lại, thằng Sáu Xồm không còn râu quai nón nữa phải không?

    - Cháu không hiểu vì sao mà bộ râu biến mất ạ.

    - Cũng chẳng khó gì. Nghĩa là, sau khi cạo nhẵn râu ở nhà cháu xong, hắn bôi lên má một lớp phấn cùng màu da mặt. Thế là biến mất bộ râu. Chú và cháu, những người tử tế khác chỉ có một bộ mặt thôi. Nhưng lũ này thường có nhiều bộ mặt. Bây giờ là dơi, chút nữa lại là chuột. Thế đấy. Nam thấy chú cán bộ có vẻ buồn phiền. Chú quay máy điện thoại mời một chú nào đó lên gặp. Một nháy mắt, chú kia đã đến, chắc chú ở tầng dưới lên.

    - Đồng chí Miên, tôi đã đưa ảnh đối tượng cho cháu Nam xem, nhưng cháu không nhận ra người nào cả. Vậy là có một lũ mới?

    Chú cán bộ nói xong, quay lại Nam:

    - Này cháu, cháu có thể ở đây đến bao giờ?

    - Mẹ cháu cho cháu đi nửa tháng ạ. ở nhà cháu còn một con thỏ...
    - Được rồi, tốt. Cháu sẽ ở đây với các chú cho đến ngày bố cháu về. Các chú không báo tin cho bố cháu biết chuyện này để bố an tâm nghỉ ngơi. Nhưng chú hỏi thật, cháu có quyết tâm giúp các chú tìm ra bọn Sáu Xồm hay không?

    - Có ạ. Nhưng liệu có lấy lại của cải được không hả chú?

    - Cái đó còn tùy xem chúng ta phát hiện ra bọn này sớm hay muộn. Chúng ta sẽ cố gắng tìm ra sớm. Thế này, không nhận được ảnh thì ta hãy thử nhận ra người vậy. Cháu sẽ đi lang thang trên đường phố như một chú bé nhà quê ra tỉnh thực sự. Chú Miên đi cách cháu hai mươi mét. Nếu gặp một trong ba thằng ấy, cháu sẽ tìm cách báo cho chú Miên. Được không? Ta hãy thử cầu may một chút xem sao. Nam theo chú Miên xuống tầng dưới. Nhưng vừa ra đến cửa, chú cán bộ gọi giật lại: - Này cháu, lúc thằng kia nói rằng chỉ có mỗi chiếc xe bò thôi thì Sáu Xồm trả lời thế nào nhỉ?

    - Nó bảo đưa đồ đạc đến 162 ạ.

    - Bao nhiêu.

    - 162 ạ.

    Hai chú cháu, chú Miên và Nam, đã ấn định một kế hoạch chặt chẽ đến mức "không chê vào đâu được" như chú Miên bảo. Chú Miên chỉ mặc áo sơ mi ngắn tay và một chiếc quần xanh nhạt. Không biết chú giấu súng lục ở chỗ nào trên người, nhưng Nam biết chắc chắn là chú có súng. Một khẩu súng xinh xinh. Chú bảo Nam: "Đưa đi phòng xa chứ chẳng phải dùng đến. Hai tay mình đánh địch cũng đủ rồi". Chú giỏi võ, điều ấy thì không nghi ngờ gì nữa.

    Hai chú cháu vạch một con đường quanh co, ngoắt ngoéo làm sao để có thể đi ngắn nhất. Đường phố, cổng chợ, rạp chiếu bóng, sân ga và bến ô tô nữa. Chú Miên bảo rằng đây là một trong nhiều cách để tóm bọn trộm, cách đơn giản nhất. Cơ quan chú đang chăng lưới, đang thông báo nhận dạng chúng nó cho những trạm gác, ở cửa ngõ ra vào thành phố và các cơ sở trong nội thành. Chú còn nói: "Trước sau rồi chúng cũng vào nhà đá, quân khốn kiếp ấy!".

    Nam xách một cái làn như đi mua bán gì và sau nó, cách đúng hai mươi mét, chú Miên lững thững bước theo. Bấy giờ là khoảng mười giờ. Nắng gay gắt đổ xuống những khoảng đường không bóng cây che. Nam thấy mệt rã người. Nhưng từ hôm qua đến nay, nó tự nhủ rằng, nếu không tìm cách đền bù lại những mất mát cho bác Thịnh và giúp đỡ các chú công an trừ được toán trộm cắp sừng sỏ này thì không còn mặt mũi nào nhìn thấy bố. Phải làm sao công việc kết thúc trước khi bố về. Bố sẽ tha thứ cho nó những sai lầm tai hại. Bỗng nó chú ý một dáng người to cao đang lùi lũi đi vào ngõ chợ Trần Quang Khải. Nam đưa tay lên vành mũ, làm như giữ cho cái mũ đừng rơi. Đó là ám hiệu cho chú Miên đi sau. Nam dấn lên mấy bước, cố bám sát con người to cao kia. Nhìn phía sau, nó cảm thấy như đang gặp lại hắn. Phải, chính hắn, thằng Xồm với đôi vai bè bè, dáng đi giật như kiểu gấu ngựa kia. Nam dấn lên, tìm cách nhìn được mặt hắn. Nhưng hắn đâu rồi? Rõ là hắn vừa đây kia, trước mặt Nam, hắn lùi lũi giữa đoàn người vào chợ đông nghịt. Tim Nam như đứng lại: khéo Nam đã để sổng mất con mồi. Nhưng đây rồi, hắn đang đứng lại bên người bán thuốc tây ở góc chợ. Quay lưng lại phía Nam, hắn ghé vào tai người bán thuốc thì thầm.

  9. #29
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Chú bé có tài mở khóa (Tiếp theo)

    Anh bán thuốc đeo kính râm gọng vàng nghiêng đầu chăm chú nghe. Hắn đặt cái túi vải bạt có vẻ khá nặng xuống đất, lôi ra một gói nhỏ, tuồn nhanh vào cái hòm gỗ dưới chân người bán thuốc. Hắn quay ngoắt về bên trái, bước nhanh ra phía cổng bên (nếu không có người bán rau chắn trước mặt, có lẽ Nam đã nhìn thấy mặt hắn rồi). Người ta chen lấn, xô đẩy Nam làm nó không thể nào lấn thêm được bước nào. Lần này thì hắn sổng mất thật. Nhưng Nam lấy lại bình tĩnh, nó quay nhìn chú Miên đang cố bám lấy mình giữa đám đông, ra hiệu cho chú biết rồi cố chen trở lại, chạy sang cổng bên đón đầu người đàn ông to lớn. Hắn kia rồi, đang bị kẹt giữa hai cái xe đạp thồ với những cái sọt to tướng chất đầy rau muống. Nam hổn hển đến bên cổng, mồ hôi nhễ nhại trên trán, ướt cả đầu tóc. Nó đứng chờ. Hắn kia, đúng rồi, cả bộ râu quai nón xanh um che kín cằm và một nửa má. Vẫn cái mũ cối tàng tàng. Nam đứng né sang một bên, nấp sau một người bán đồ chơi trẻ con đang vừa rao hàng vừa thổi còi te, te.

    - Này, chú nhóc, xê ra, xê ra...

    Một bàn tay cứng như thép chộp lấy vai Nam, nhấc bổng nó lên rồi đặt xuống bên cạnh người bán đồ chơi. Nhưng hắn không phải là Sáu Xồm. Anh ta đặt cái túi xuống bên cạnh người bán đồ chơi trẻ con rồi giơ lên trước mặt người ra vào cổng chợ những gói thuốc bọc giấy nho nhỏ như những gói mực tím. Chiều hôm đó, sau khi ăn cơm xong, chú Miên bảo Nam:

    - Đừng coi thường những biện pháp đơn giản, cháu ạ. Biết bao vụ án tìm ra được cũng chỉ nhờ những cách bình thường. Chú cháu ta hãy kiên trì đi tìm chúng nó vài hôm nữa xem sao.

    Nam vẫn chưa thôi xấu hổ vì hồi sáng bé cái nhầm!

    Nó bảo chú Miên:

    - Chú cho phép cháu về qua nhà bố một chút...

    - Cháu định tìm chúng nó ở đấy à?

    Sao cháu ngây thơ thế? Sẽ không bao giờ chúng trở lại chỗ ấy nữa đâu.

    - Không cháu muốn xem xem bố đã về chưa. Biết đâu bố cháu về chơi cũng nên.

    - Được, cháu đi đến bảy giờ tối rồi hai chú cháu ta sẽ đi ra mấy cái rạp xi nê xem sao!

    Nam ra đi và đêm ấy nó không về. Mười giờ đêm, chú Miên đi tìm Nam. Nhưng gian nhà vẫn đóng im ỉm, khóa lủng lẳng bên ngoài. Chú đập cửa gọi, vẫn không có ai thưa. Tất cả mọi người đều nói rằng chiều nay không hề thấy Nam về đây. Không ai gặp nó.

    Chú Miên báo cáo với cấp trên. Nhiều chiến sĩ trinh sát được phân công đi tìm Nam. Nhưng đáy biển mò kim, sáng hôm sau vẫn không có tin tức về chú bé. Chú cán bộ vò đầu nói với chú Miên:

    - Lỗ to rồi, đồng chí. Tưởng bắt về được ba đứa, bây giờ lại mất đi một!

  10. #30
    Ngày tham gia
    19-08-09
    Bài viết
    210

    Mặc định

    Chú bé có tài mở khóa (Tiếp theo)

    Cách nhà bố khoảng năm mươi thước. Nam gặp hắn. Lần này thì không nhầm vào đâu được nữa. Dưới bóng tối một cây sấu già, Nam đi ngược chiều với hắn và trong lúc hắn cắm đầu xuống đi giật giật như gấu thì Nam đã đủ thời giờ nhận ra đám râu quai nón, mái tóc hớt cao, bộ quần áo lính bạc màu. Hắn không nhìn thấy Nam, nhưng chính Nam đã nhận ra hắn, rõ ràng, chắc chắn như khi cùng ngồi trong phòng với hắn hôm nọ vậy.

    Nam vẫn cúi đầu đi tới. Bước đến một cái máy nước có hàng chục người giặt giũ, xếp thùng, Nam lẩn vào trong bọn họ rồi quay trở lại, nấp sau một cây phượng, nhìn theo bóng hắn ta. Hắn đang đứng lại, bật lửa châm thuốc hút. Hắn liếc nhanh về phía sau nhưng tỏ ra phớt đời đến lạnh lùng, hắn lại đi, lần này đi chậm hơn, rẽ vào lối bờ sông Tam Bạc. Nam bám theo hắn, cách một quãng vừa phải. Nam tính toán khoảng cách thế nào đủ để hắn không thể nhận ra Nam, còn Nam cũng không bị sổng mất hắn. Cứ mỗi lần hắn rẽ vào ngã ba nào đó, Nam lại bứt lên; khi "bắt" được hắn rồi, Nam lại chậm bước, giữ cự ly cũ. Phải làm cách gì để thông báo cho chú Miên hay một chú công an nào đó. Nhưng cũng không thể rời hắn một giây. Hắn rẽ luôn, đi theo một đường ngoắt ngoéo không như người khác. Nam chỉ còn biết theo sát hắn, điều quan trọng nhất - nó nghĩ - là không để mất hắn. Sau đó làm gì hẵng hay.

    Hắn ra phía bờ sông. Con sông phập phồng trong đêm. Bè gỗ, sà lan, thuyền bè chen khít. Bóng tối cũng rập rình theo nhịp của mặt nước xao động. Hắn vẫn đi theo bờ sông, dạo này bóng điện đường ít sáng và thưa thớt nên hắn dễ lẫn vào bóng tối. Nhiều lúc Nam tưởng hắn đã sổng mất, nhưng chỉ một chút sau lại hiện dưới quầng sáng của một ngọn đèn nào đó dưới mặt sông hắt lên. Một quãng bờ sông tối om. Trước mặt hắn là con thuyền lớn, loại thuyền vẫn chở hàng vào thành phố. Hắn bắt đầu đi chậm lại. Ngang tầm con thuyền, hắn bỗng quay ngoắt người và nhanh như một con cáo, bước ngược lại phía Nam. Trước khi nhận thấy được điều gì xảy ra với mình, Nam đã ở trong tay hắn. Bàn tay rắn như thép của hắn bịt lấy miệng Nam, hắn dùng cả cánh tay phải xốc nách Nam, ép Nam sát vào người hắn làm chú bé đau ê ẩm. Hắn bước như chạy vài bước là hết tấm ván cầu, vứt Nam vào sạp thuyền tối om. Không kịp cho chú bé định thần, hắn nhét vào miệng chú một cái khăn mặt. Một cái đầu với mùi mồ hôi quen thuộc ghé sát đến Nam, sợi thừng nhỏ và mềm quấn quanh thân chú bé như con rắn. Muỗi Vằn làm công việc mà hắn thạo nhất.

    - Đi thôi - Nam nghe thấy tiếng Sáu Xồm.

    - Về Lò Vôi hả anh Hai? - Câu hỏi đó là của Hùng Lé.

    Con thuyền dập dềnh, tiếng sào sục nước, những bước chân giẫm trên mui thuyền ầm ầm, Nam biết chắc thuyền đang rời bến. Lúc này, Nam không còn sợ nữa. Trong có vài ngày chú bé đã qua nhiều nỗi hiểm nguy đến mức chú cảm thấy bình thường khi gặp lại lũ đầu trâu mặt ngựa "quen biết".

    Chỉ có một điều chú không biết: Sáu Xồm đã nhận ra Nam trước khi chú bé nhìn thấy hắn. Đó là thiên bẩm của lũ người sống thường xuyên trong bóng tối. Khi hắn dừng lại châm lửa hút thuốc, Nam đâu biết rằng hắn đang cười gằn. Cũng lúc đó trong đầu hắn nảy ra một ý nghĩ mới. Hắn sẽ làm con mồi dẫn con chuột nhắt vào cạm. Hắn muốn gạt bỏ mối nguy hiểm duy nhất đối với hắn trong thời gian ở thành phố này. Vả lại, hắn cũng đang cần thêm một chú bé kháu khỉnh, thông minh và dễ thương. Hùng Lé vẫn còn chưa đủ. Nam không biết khi Sáu Xồm kéo nó từ dưới sạp thuyền ẩm ướt lên thì đã mấy giờ đêm. Nó nhìn sao tua rua lung linh ở một phần trời. Tiếng sóng biển dào dạt đâu đây, mơ hồ vọng đến tai Nam như nhắc lại cuộc sống vừa mới qua nhưng không hẹn ngày gặp lại. Thành phố, làng Phượng Vỹ, bóng dáng mẹ cần cù đi lại trong gian nhà tranh ấm cúng và sạch tinh tươm... Bé Việt, con thỏ đen tuyền và những tiếng nói, khuôn mặt quen thuộc. Nó nhớ đến bố với giọng cười sảng khoái trong những ván cờ, và khi nó chiếu tướng thì bố lặng lẽ đưa tay xoa cằm. Lẽ nào nó sẽ phải từ giã tất cả? Lẽ nào nó sẽ không còn gặp lại cô Thi, bọn thằng Đào, thằng Thế, và ngôi trường làng xanh um những tán bàng?

    Con thuyền đang thả neo trong một cái lạch kín đáo. Nam biết Sáu Xồm cho thuyền ra phía biển, giấu thuyền giữa rừng sú. Có lần bố cho Nam đi thử một chiếc ca nô dã chiến nhà máy vừa mới đóng xong. Nam đã cùng bố và các chú đi trên những con lạch này. Nhưng sao đêm nay tất cả đều thật đáng sợ, cánh rừng và con lạch đều tối tăm với tiếng kêu buồn bã của những con mòng két lạc đàn.

    Muỗi Vằn cởi trói cho Nam sau khi kéo Nam lên cho ngồi dựa vào vách thuyền, trên tấm chiếu hoa, cùng với Sáu Xồm và Hùng Lé. Ngọn đèn hoa kỳ đủ sáng một khoang thuyền. Giữa chiếu là một đĩa kẹo, một chai rượu mùi và mấy khoanh giò đặt trên tấm lá chuối tươi. Sáu Xồm nói:

    - Chú mày láu cá lắm, chú nhà quê ạ. Chú em lại đòi bám đuôi ta cơ à? Cái thứ như chú em thì không làm được việc ấy đâu. Nhưng thôi, bây giờ ta xí xóa và chú em ăn đi. Muốn ăn gì thì ăn: kẹo, giò, thích uống rượu thì cứ uống.

    - Ta đi chứ, các chú - Muỗi Vằn nói.

    - Xin phép anh Hai!

    Hắn lấy một khoanh giò, nâng cốc rượu đã rót sẵn ực một hơi. Hùng Lé nhìn Nam. Từ nãy đến giờ nó không nói gì, nét mặt ủ dột. Nam nhìn thẳng vào mặt Hùng Lé. Đã hơn ba mươi tiếng đồng hồ rồi nó mới gặp lại thằng bạn mới làm quen trên sân ga. Trong lòng Nam sôi lên một cơn giận ghê gớm.

    Nam muốn tỏ thái độ với Hùng nhưng không được. Bây giờ là lúc Nam phải tìm kế thoát thân và giúp các chú công an phát hiện ra chúng.

    Nam im lặng. Hùng Lé hình như hiểu được cái nhìn của Nam. Nó quay mặt đi rồi bước ra đầu mũi thuyền. Sáu Xồm nhìn theo, mắt ánh lên một tia khó chịu.

    Nhưng hắn giấu ngay điều đó, trở lại vỗ về Nam:

    - Chú xin lỗi cháu, vì hôm kia cũng như hôm nay phải dùng tay chân với cháu. Chẳng qua là tình thế bắt buộc mà! Cháu khá lắm. Chú thấy ít đứa trẻ gan lì như cháu đấy. - Hắn hạ giọng đủ cho Nam nghe thấy: - Thằng Hùng cũng vậy đấy. Trước đây nó là đứa trẻ anh hùng ra trò. Nhưng bây giờ thì hỏng rồi, chú nói thật đấy, hỏng rồi.

    Thấy Nam trân trân nhìn xuống mặt chiếu, im lặng không nói gì, Sáu Xồm nhón mấy cái kẹo đặt vào tay nó.

    - Ta hẵng quên chuyện cũ đi! - Sáu Xồm uống một hớp rượu. - Cái nhà hàng xóm của cháu ấy mà, nếu chú không ra tay thì cũng có hội khác chúng nó làm, cháu đừng nghĩ gì mà mệt. Bây giờ hẵng nghĩ đến ngày mai. Này cháu, đời giang hồ khoái lắm. Chú sẽ nuôi cháu, chu cấp cháu đủ ăn xài, muốn gì có nấy. Chú cháu ta sẽ đi đây đi đó, nơi nào dễ làm ăn ta đến, đời như con cá, con chim, cháu thích không?

    Nam thấy im lặng là hơn cả.

    - Đến nước này thì cháu chỉ có hai lối ra thôi - Sáu Xồm nói, giọng hăm dọa.

    - Hoặc là cháu sẽ cùng đi với bọn ta, hoặc ta bắt buộc phải xử tệ với cháu. Nghĩa là dù cách nào đi nữa, cháu cũng chẳng hy vọng trở về! Bởi vì, cháu đã biết hết bí mật của bọn ta, phải không?

    Có tiếng Hùng Lé trên mui thuyền:

    - Cá xanh, anh Sáu!

    Tiếng nói vọng xuống từ một cái cửa mở một bên mui thuyền. Sáu Xồm và Muỗi Vằn chạy ra đằng mũi. Bỗng Nam thấy từ sát cửa sổ rơi xuống một miếng giấy nhỏ. Nó nhặt lên, đọc thấy mấy chữ viết bằng bút chì: "Đầu hàng đi, đừng cãi!" Nam vo viên mẩu giấy quẳng vào cái bếp lò bên cạnh tấm chiếu. Vậy là thế nào? Hùng Lé muốn gì, nghĩ gì?

    Hai thằng trở vào. Sáu Xồm nói với thằng kia:

    - Thằng dở hơi! Ca nô biên phòng không vào thấu đây! Họ chỉ chạy đến ngã ba rồi rẽ vào sông cái. Đây thuộc về địa phận của huyện rồi.

    Sáu Xồm đã biết chọn nơi làm tổ cho cái ổ trộm cắp của hắn.

    - Sao! Sao chú mày cứ lặng thinh vậy?

    Sáu Xồm hỏi. Nam đang mải nghĩ về miếng giấy. Nó trả lời:

    - Cháu buồn ngủ lắm rồi, chú cho cháu ngủ.

    - Phải đấy nhỉ! Tuổi ăn tuổi ngủ mà.

    Vậy thì ngủ đi, ta sẽ tiếp tục nốt câu chuyện sau khi cháu thức dậy nhé!

+ Reply to Thread

Similar Threads

  1. Phim ngắn
    By the way in forum Cà Líp
    Trả lời: 52
    Bài viết cuối: 12-07-10, 22:30
  2. Who is who - Ai ngớ ngẩn nhất?
    By faab in forum Ăn Uống Vui Chơi Khác
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 22-08-07, 17:53

Quyền viết bài

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của bạn