View Full Version : Điển tích, ai thích ghé thăm.
Có rất nhiều những từ bình thường trong cuộc sống, chúng ta vẫn dùng nhưng đôi khi không hiểu nghĩa, topic này muốn sưu tập mội vài điển tích để mọi người cùng hiểu thêm về tiếng Việt chúng ta đang dùng.
Bài đầu tiên, vì sao có từ Mạnh Thường Quân
Mạnh Thường Quân (tên là Điền Văn) nổi tiếng về tính hiếu khách; ông chiêu hiền đãi sĩ, văn cũng như võ; lúc nào trong nhà cũng có ba, bốn nghìn khách ăn, đủ các hạng người trong xã hội. Nhà nghĩa hiệp Mạnh Thường Quân, người nước Tề, đời Chiến quốc, tên là Ðiền Văn.
Vua nhà Tần là Tần Chiêu Vương mời Mạnh Thường Quân về nước Tần làm Thừa tướng. Sau nghe lời gièm pha của một đại thần, vua bắt giam Mạnh Thường Quân, rắp tâm sẽ giết chết. Ðoàn khách đi theo ông giả làm chó sủa dữ dội, lừa quân canh gác, nên lọt vào kho vua, lấy chiếc áo hồ cừu sắc trắng muốt vô cùng quý giá, rồi đem dâng quý phi vua Tần để bà tâu vua cho Mạnh Thường Quân được tự do và trở về nước. Nửa đêm, đến cửa ải, cửa còn đóng. Ðoàn khách giả làm gà trống, gáy inh ỏi. Lính canh tưởng trời sáng, mở cửa ải. Ðoàn người đi thoát, Mạnh Thường Quân trở về nước Tề yên ổn.
Mạnh Thường Quân làm tướng nước Tề, được phong ấp. Ở đất Tiết Mạnh Thường Quân muốn thu nợ của dân; ông hỏi các khách ăn xem ai thông thạo tính toán, sẵn lòng đi thu nợ hộ ông. Phùng Hoan xin đi. Mạnh Thường Quân hỏi ra, mới biết Phùng Hoan thường ngày vẫn ca bài "Trở về", vì ở đây ông ăn không đủ, ở đây ông không có xe ngựa đi và nơi đây không có nhà cho mẹ già ở. Mạnh Thường Quân đến gặp Phùng Hoan tạ lỗi, vì đã không quan tâm đầy đủ đến tất cả khách ăn. Phùng Hoan nguyện xin đi thu nợ. Ông hỏi Mạnh Thường Quân: "Thu nợ xong, Tướng công có cần mua gì không?". Mạnh Thường Quân đáp: "Tuỳ tiên sinh, tiên sinh thấy trong nhà thiếu gì, tiên sinh cứ mua về". Ðến đất Tiết, Phùng Hoan cho người mời tất cả những ai mắc nợ đến và mang theo đầy đủ văn khế nợ. Ông thu tất cả giấy tờ, chất thành một đống. Ông bảo mọi người: "Tôi được lệnh của Tướng quốc Mạnh Thường Quân xoá tất cả mọi món nợ Tướng công của dân đất Tiết". Nói xong, ông châm lửa đốt đống giấy văn khế; ngọn lửa cháy rực rỡ giữa tiếng hoan hô vang dậy của dân chúng. Khi Phùng Hoan về, Mạnh Thường Quân hỏi ông có mua được gì về không, Phùng Hoan đáp: "Thưa Tướng công, tôi nghĩ trong cung của Tướng công chẳng thiếu gì; lương thực, của ngon vật lạ đầy ắp kho; vàng bạc châu báu lung linh khắp cung, xa mã đầy đủ. Ở đây tôi thấy điều nghĩa, nên tôi đã mua điều nghĩa hầu tướng công".
Ít lâu sau, vua Tề không tin dùng Mạnh Thường Quân. ông phải về ở đất Tiết. Ông về đến nơi, thấy dân chúng đông đảo đã mang kiệu và lọng ra đón; một tốp thiếu nữ tươi vui ca hát, nhảy múa như trong một ngày hội tưng bưng. Ông già bà cả mặc những bộ quần áo đẹp nhất xúm quanh ân nhân của dân chúng; thanh niên nam nữ, các thiếu phụ bế con, vui cười hớn hở đứng dọc hai bên đường nườm nượp. Tối hôm đó, cả xóm rực sáng những bó đuốc nhựa thông. Mạnh Thường Quân lúc này mới hiểu thấu điều nghĩa mà Phùng Hoang đã mua cho ông. Ông hiểu rằng trước đấy, ông chưa hề lo nghĩ cho dân chúng.
Sách chép rằng, nhờ sự giúp đỡ đầy mưu trí của Phùng Hoan, vua Tề phải nghĩ lại và mời Mạnh Thường Quân trở lại triều đình và cho ông lập tôn miếu ở đất Tiết thờ tiên vương. Ðó là những bảo đảm lâu bền của cuộc sống đầy sóng gió. Mạnh Thường Quân sống được vài chục năm nữa, giữa lòng thương yêu của ngàn khách, của dân chúng, thì qua đời, để lại cho mai sau một tấm gương chói lọi.
(Sưu tầm)
Điển tích "Mắt Xanh"
Nguyễn Tịch, tên chữ là Tự Tông, người đất Trấn Lưu, con của Nguyễn Vũ, một trong Kiến An Thất tử.
Nguyễn Tịch có dung mạo khác thường, chí khí mở rộng, tự nhiên, một mình độc lập, phóng túng tự do, mà mừng giận không hiện ra nét mặt, thường đóng cửa ở trong nhà đọc sách, có khi hàng tháng không bước chân ra ngoài, có khi trèo lên núi ngao du sơn thủy hàng mấy ngày quên trở về.
Nguyễn Tịch đọc rất nhiều sách mà thích nhứt là sách Đạo Đức Kinh của Lão Tử và Nam Hoa Kinh của Trang Tử.
Ông thích uống rượu, biết thổi sáo, giỏi đàn cầm, đương khi đắc ý chợt quên hình hài mà siêu thần nhập hóa. Người đời cho ông có si tính hay máu điên.
Vì có cái cuồng danh đó mà Tư Mã Chiêu (con của Tư Mã Ý) đem lòng ngưỡng mộ, muốn kết thân với Nguyễn Tịch, nhưng ông không chịu nên cố ý say sưa luôn 60 ngày đêm để khỏi gặp Tư Mã Chiêu.
Bề ngoài của Nguyễn Tịch trông rất phóng đãng, nhưng bên trong rất thuần chính. Hành động phóng đãng là giả vờ để tránh tai họa, bảo trọng lấy thân mà thôi.
Ông nhìn thấy triều đình càng lúc càng suy yếu, quan lại chuyên quyền, dua nịnh, ông rất đau lòng, nên đã kết tinh vào tác phẩm "Vịnh Hoài" của ông, một tập thơ bất hủ gồm 82 bài thi, một kiệt tác của thời bấy giờ. Tấm lòng của ông bao la, tầm mắt rộng lớn mà không gặp được người đồng khí tương cầu nên đã phát tiết bi thương trong thơ văn đến độ mãnh liệt.
Nguyễn Tịch có cặp mắt rất đặc biệt, khi vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt xanh, còn không vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt trắng. Khi mẹ Nguyễn Tịch mất, ông Kê Hỷ mang đồ lễ đến viếng, Nguyễn Tịch tiếp nhìn với đôi mắt trắng dã. Hỷ ra về mà bụng không bằng lòng. Em của Kê Hỷ là Kê Khang nghe biết chuyện đó, mới mang rượu và cắp đàn đến, thì Tịch rất vui, vừa ý lắm, tiếp Kê Khang với đôi mắt xanh.
Năm thứ tư đời Cảnh nguyên, tức☹ là năm 263, Nguyễn Tịch mất, hưởng được 54 tuổi.
Kê Khang thường ca tụng Nguyễn Tịch rằng: Nguyễn Tự Tông, miệng không bàn lỗi của người. Ta mỗi khi bắt chước điều ấy mà không kịp được, cùng cực bẩm tính hơn người, với sự vật không thương tổn, chỉ có cái uống rượu quá mức thôi.
(Sưu tầm)
Kê Khang và Nguyễn Tịch là 2 trong thất hiền ở Trúc Lâm.
Tơ hồng
Tể tướng Trương Gia Trinh đời nhà Ðường bâng khuâng suy nghĩ nửa mừng nửa lo về năm người con gái của ông xấp xỉ tuổi nhau. Năm cô đều xinh đẹp, mỗi cô mỗi vẻ, cô thì mảnh mai như cây liễu; cô thì vui tươi mắt đen lay láy, nói cười hồn nhiên; cô thì đầy sức sống, má đỏ, miệng cười như hoa nở; cô thì thông minh, đàn hát ca múa làm say lòng người.
Danh sĩ Ðặng Nguyễn Chấn (có sách chép Quách Nguyên Chấn) người hào hoa nổi tiếng đến cầu hôn. Tể tướng băn khoăn không biết gả cô nào cho nho sĩ tài hoa. Cô nào ông cũng quý, cũng yêu, cô nào cũng xứng với chàng thanh niên phong nhã. Hỏi các cô, thì các cô một mực" xin tuỳ ý cha định đọat".
Chợt một hôm ông nẩy ra một ý kiến hay hay. Ông gọi cả năm cô đến và bảo:
-Ðây, các con yêu quý của cha, mỗi con cầm một sợi dây tơ, mỗi dây một màu xanh, đỏ, tím...cha sẽ lấy một tấm màn lớn và dày che các con, các con đứng bên trong tấm màn, mỗi con cầm một sợi dây thả ra bên ngoài màn. Chàng Nguyên Chấn rút đúng sợi dây cô nào cầm, cô ấy sẽ là vợ chàng. Các con gái của cha nghĩ sao?
Cả năm cô vốn tính hồn nhiên, reo lên:
- Cha tài thật, chúng con làm theo ý cha.
Chàng thanh niên được mời đến; Tể tướng nói cho chàng nghe cách chọn vợ kỳ cục ấy.
Chàng thấy hay hay và vâng lời. Tức khắc, một tấm màn thêu to tướng, dày cộp màu sẫm được mấy thị nữ căng lên. Một lát, từ phía sau tấm màn, năm sợi dây đủ năm màu cầu vồng (người Trung Quốc xưa cho rằng cầu vồng chỉ có năm sắc) tung bay trước rèm. Chẳng biết lựa chọn thế nào, Nguyễn Chấn cầm ngay một sợi chỉ đỏ. Rèm được kéo lên. Người con gái lộng lẫy xuất hiện, tay cầm sợi tơ hồng. Những tiếng cười hoan hỉ vang lên.
Ðến nay, nhiều người cho nhân duyên là số phận và sáng kiến của Tể tướng Trương Gia Trinh kén rể là một hình thức rút thăm, hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng.
Còn "tóc mai sợi ngắn sợi dài" nữa ạ :D
Ba Que Xỏ Lá
Trong thời Pháp thuộc, có một bọn người chuyên tổ chức những "trò chơi có thưởng". Trò chơi của bọn họ gồm một cái que và ba chiếc lá. Mỗi lá có đính một chiếc vòng nhỏ ở cuống. Người chơi cầm cái que nhỏ xỏ vào ba vòng nàỵ Mỗi người chỉ được xỏ một lần. Người nào xỏ vào được một lúc cả ba lá và nhấc được chúng lên thì được lĩnh thưởng. Ai xỏ trật, tức xỏ không vào lá nào hoặc chỉ vào một trong ba lá, sẽ mất toi số tiền đặt cược[1].
Cũng liên quan tới trò chơi này, có người kể lại cách thức chơi của bọn chủ trò có khác chút ít. Chúng thường dùng ba que nhỏ, trong đó chỉ có một que xỏ vào chiếc lá rồi chìa cho mọi người xem. Chúng tuyên bố rằng nếu ai rút trúng que có chiếc lá khi chúng nắm tay lại thì người đó trúng thưởng. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đặt cược [1] trước. Dù chơi theo cách thức nào đi nữa, thì bọn chủ trò vẫn có nhiều mưu mẹo, khiến cho người chơi bao giờ cũng thua cuộc. Vì thế, người ta mới gọi bọn chủ trò là bọn "ba que xỏ lá" với hàm ý là bọn bịp bợm, lừa đảo, dối trá. Từ cách thức chơi thứ nhất, nhiều người cho rằng hình thức ban đầu của "ba que xỏ lá" là "xỏ lá ba que"[2].
Sở dĩ có sự thay đổi này là do việc đọc chệch cho thuận miệng, dễ đọc, dễ nhớ.
Thành ngữ "ba que xỏ lá" dần dần được mở rộng phạm vi xử dụng. Nó được dùng để chỉ tất cả những hạng người lừa lọc, bịp bợm, đểu cáng.
Châu Về Hợp Phố
"Châu về Hợp (hiệp) Phố" ý nói trùng phùng gặp gỡ, đoàn tụ lạị
Trong "châu về Hợp Phố", "châu" là từ vốn dùng để chỉ ngọc trai, về sau để chỉ ngọc nói chung, còn "Hợp Phố" vốn là tên của một quận xa xưa của Giao Châu. Đây là một nơi sản xuất châu nổi danh.
Hợp Phố xưa thuộc tỉnh Giao Châu, nay là Quảng Đông. Vào thời Bắc thuộc, miền bể ấy có rất nhiều ngọc châu (ngọc trai).Tương truyền, ở thời Hậu Hán có tên quan thái thú tham lam, bạo tàn, thường bắt dân lấy ngọc châu rất ngặt, đi mò và nộp cống. Vì thế mà châu ngọc đã bỏ quận nhà để sang quận Giao Chỉ.
Về sau có một người tên là Mạnh Thường về làm quan. Mạnh Thường thanh liêm và thương dân nghèọ .Mạnh Thường đến thay chức Thái Thú, ra những đạo luật mới, bỏ những tệ cũ, cho dân chúng tự do kiếm châu, sản xuất châu, thì châu từ quận Giao Chỉ trở về quận Hợp Phố quê nhà.
Những ngọc châu tự nhiên lại trở về Hợp Phố.
Từ tích này, người ta mới dùng câu "châu về Hợp Phố" để chỉ vật quý trở lại chốn cũ, hay nhận lại những vật quý đã mất.
anh(chú)(bác) ted ơi em nghĩ thế này là hết rồi chứ ạ ?
Dây Tơ Hồng
</B>
Điển tích Tơ Hồng do chuyện ngày xưa,Đời nhà Đường, bên Tàu có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi trăng, bắt gặp một ông già ngồi dựa túi xem sách dưới bóng trăng và xe các sợi dây đỏ.Anh ta hỏi, thì ông cụ bảo sách ấy chép tên những người lấy nhau và túi ấy đựng những sợi chỉ hồng (xích thằng) để buộc chân hai người phải lấy nhau, không sao gỡ ra được nữa.
ông ta nói ông là Nguyệt Lão, chuyên coi việc xe duyên vợ chồng nhân gian. Ông nói "ta buộc dây tơ này vào chân người nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau".
Vi Cố bèn hỏi sau này ông sẽ lấy ai, thì ông cụ chỉ một đứa bé lên ba tuổi ở trong tay một người đàn bà chột mắt đem rau ra bán ở chợ mà bảo đó là vợ Vi Cố. Vi Cố giận, sai người đâm con bé ấy, nhưng nó chỉ bị thương thôi. Vi Cố sợ trốn đi. Mười bốn năm sau, Vi Cố đỗ đạt lấy con của tể tướng, sau mới biết là đó con nuôi và chính là người Vi Cố định giết ngày xưa.... quả nhiên Vi Cố lấy người con gái ấy.
Chữ "nguyệt lão" chúng ta thường dịch nôm na là "trăng già". Hai chữ "Ông Tơ" và "Bà Nguyệt" cũng bởi tích ấy mà ra.
Người Việt Nam tin tình duyên do tiền định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạ ơn ông Nguyệt Lão và cầu mong dây tơ hồng được cột chặt bền lâu .
Anh (bác ) ted ới em không nhớ chính xác đoạn Vi Cố lên làm tể tướng như thế nào nữa . chỉ nhớ mang máng thế . viết như thế có vắn tát quá không nhỉ ?
Châu về Hợp phố của Ma nhỏ ngắn thế, còn dài nữa mà!
Còn điển tích tơ hồng, còn thiếu đoạn anh chàng nhờ người chém đứa bé, rồi trốn đi, sau đỗ đạt lấy con của tể tướng, sau mới biết là con nuôi và chính là người Vi Cố định giết ngày xưa....
anh chàng nhờ người chém đứa bé, rồi trốn đi, sau đỗ đạt lấy con của tể tướng
(spam)
Sau này có đoạn 7 chú lùn ko ạ?
Trong giới dancing bi giờ cũng có vài ba điển tích đấy nhỉ B-)
Chuyện ba phải
Thuở xưa, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có ba đệ tử. Một hôm rảnh rỗi, ba ông ngồi với nhau tranh cãi thế nào là chân lý duy nhất. Ðương nhiên với bản lĩnh uyên thâm của từng ông, họ luôn bảo vệ lý luận của mình là chân lý, chả ông nào chịu ông nào. Cuối cùng, họ thống nhất đem kiến giải của bản thân trình Ðức Phật nhờ Ngài phân xử. Nghe đệ tử đầu trình bày xong, Ðức Phật nói là ông ta đúng. Tiếp đến người thứ hai Ðức Phật cũng nói ông này đúng. Người thứ ba cũng vậy. Cả ba cáu quá mắng sư phụ là đồ ba phải.
Ba người đệ tử không biết rằng ẩn dụ của chân lý duy nhất chính nằm ở chỗ đó. Đức Phật ngụ ý rằng chân lý duy nhất không nằm ở đâu cả. Cái gì cũng có thể là chân lý, mà cũng không có cái gì là chân lý.
Lâu dần nghĩa tích cực của từ ba phải chuyển thành tiêu cực. Những người nhu nhược, ai nói gì cũng thấy đúng, kô có chủ kiến riêng của mình.
(st nhặt nhạnh linh tinh lưu vào word lâu rồi không nhớ được link )
Khánh Ly
Trịnh Công Sơn đã nói rằng ông đặt nghệ danh cho ca sĩ Lệ Mai là Khánh Ly bởi vì ông hâm mộ hai nhân vật trong lịch sử là Khánh Kỵ và Yêu Ly.
Như thế này
Yêu Ly là thích khách người nước Ngô đời Xuân Thu . Công tử Quang giết vua Ngô rồi lên ngôi, tức là Hạp Lư . Con vua Ngô là công tử Khánh Kỵ (tên Liêu) trốn sang nước khác, chiêu nạp hào kiệt kết liên lân quốc tìm cơ hội báo thù . Hạp Lư nghe chuyện Khánh Kỵ, ăn không ngon ngủ chẳng yên, bèn lập kế dùng Yêu Ly giết Khánh Kỵ . Hạp Lư khép tội Yêu Ly rồi chặt mất cánh tay phải và giết hết vợ con Yêu Ly để Khánh Kỵ tin . Yêu Ly gặp Khánh Kỵ, được tin dùng . Tới lúc Khánh Kỵ cùng quân sĩ xuôi dòng sông về đánh Ngô, Yêu Ly ngồi chung thuyền đợi lúc gió mạnh cầm giáo đâm suốt bụng Khánh Kỵ . Khánh Kỵ xách ngược đầu Yêu Ly lên dìm xuống nước ba lần rồi lại để lên đầu gối, cúi nhìn, cười mà rằng "thiên hạ còn có dũng sĩ dám cả gan đâm ta !" Quân sĩ lúc đó xúm lại đòi giết Yêu Ly, nhưng Khánh Kỵ gạt đi mà bảo, "người này là một dũng sĩ ! Chớ nên trong một ngày mà để chết hai dũng sĩ của thiên hạ . Đừng giết y, tha cho y về Ngô để cho y được tỏ lòng trung ."
Sau đó, Yêu Ly tự cho mình là kẻ bất nhân bất nghĩa bất trí, thẹn với Khánh Kỵ mà tự sát chết ...
(st nhặt nhạnh linh tinh lưu vào word lâu rồi không nhớ được link )
Liễu Chương đài
Khi về hỏi Liễu Chương đài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Trong một truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh có anh chàng tên là Chương khi đi thi vấn đáp môn Việt văn đã bắt thăm phải câu hỏi: Đọc một câu Kiều có tên mình ở trong đó. Anh chàng này khá nhanh trí và thuộc Kiều đã đọc được câu thơ về Liễu Chương đài này. Hình như cũng là một trong số ít câu có từ Chương.
Đọc câu thơ nói trên thì đúng là nếu không biết điển tích chẳng ai hiểu gì. Mới đây có một cậu người nước ngoài học tiếng Việt đến trình độ siêu, viết văn tiếng Việt nhiều học sinh đại học (đã trải qua cái gọi là giáo dục phổ thông) phải gọi bằng cụ. Thế mà cậu ta đã than thở là muốn đọc truyện Kiều, mỗi câu phải mất vài tiếng mới hiểu được hết.
Chương đài là tên một con đường phố thị ở Trường An đời nhà Ðường. Liễu Chương đài ở đây chữ Liễu viết hoa cũng được mà không viết hoa cũng được. Nó có hai nghĩa, một là ám chỉ Liễu thị, hai là cây liễu ở phố Chương đài. Câu thơ cụ Nguyễn Du viết có ý: về hỏi tới người yêu cũ, thì nàng đã như hoa bị người khác hái mất rồi.
Tích truyện nó như thế này:
Đời nhà Đường, vào những năm xảy ra loạn An Lộc Sơn, ở thành Trường An có chàng thư sinh họ Hàn tên Hoành có người vợ xinh đẹp tài giỏi là Liễu thị. Hàn Hoành thì đúng là học trò áo vải nghèo rớt mồng tơi, còn thị Liễu này vốn xuất thân kỹ nữ. Cuộc sống không lấy gì làm dư dật nhưng hợp ý tâm đầu, chồng xướng vợ tùy rất hạnh phúc.
Sống với nhau ít lâu, Hàn Hoành có việc phải đi xa. Tới đây thì mỗi sách nói một phách, có chỗ bảo Hàn Hoành có tang gia đình phải về quê lo liệu. Có chỗ thì nói Hàn Hoành đi làm việc quan ở xa, không đưa Liễu thị theo được. Hai vợ chồng xa nhau lâu ngày, Hàn Hoành không biết tình cảm của vợ với mình còn mặn nồng như xưa không, mới làm bài thơ nhắn gửi rằng:
Chương đài Liễu, Chương đài Liễu,
Tích nhựt thanh thanh kim tại phủ?
Túng sử trường điều tự cựu thùy,
Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.
Tạm dịch:
Liễu ơi, hỡi Liễu Chương đài,
Xưa xanh xanh biếc hỏi nay có còn.
Ví ta buông vẫn xanh rờn,
Hay vào tay khác khó còn nguyên xưa.
(Bản dịch của Vân Hạc - Văn Hoè)
Liễu thị cũng làm bài thơ họa lại rằng:
Dương liễu chi phương phi tiết,
Khả hận niên niên tặng ly biệt.
Nhứt diệp tuỳ phong hốt báo thu,
Túng sử quân lai khởi kham chiết.
Tạm dịch:
Xanh xanh cành liễu đương tươi,
Năm năm luống để tặng người biệt ly.
Thu sang quyến lá vàng đi,
Chàng về biết có còn gì bẻ vin.
(Bản dịch của Trúc Khê)
Loạn An Lộc Sơn xảy ra, Liễu thị sa vào tay một viên tướng giặc. Hàn Hoành trở về mất vợ, hoảng hốt đi tìm. Đến đây lại tam sao thất bản. Có sách nói Hàn Hoành làm bài thơ Liễu Chương đài hay quá, lan truyền tới tai tướng giặc, làm hắn cảm động tha Liễu thị về. Có người lại bảo Hàn Hoành được bạn bè và quan trên giúp đỡ trộm lại được Liễu thị. Hai vợ chồng từ đấy sống với nhau hạnh phúc.
Tuy nhiên chắc sự đời không đơn giản thế. Sau có ông Bão Vũ viết truyện ngắn lấy tích này, đọc còn hay hơn cả sự thật. Cụ Nguyễn Du nhân vì Kim Trọng và Thúy Kiều hoàn cảnh cũng tương tự Hàn sinh Liễu thị nên dùng điển cố này.
(st nhặt nhạnh linh tinh lưu vào word lâu rồi không nhớ được link )
Còn "tóc mai sợi ngắn sợi dài" nữa ạ :D
Em tưởng là thế này chứ bác Dắt
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm
Bác Dắt chắc biết tại sao lại ví von chuyện tóc mai với chuyện tình dang dở chứ? Em thì chịu, chỉ thích câu này thôi, giải thích em với :-/
Nó còn có câu này nữa, hay thật :D
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn
Cái nài hình như liên quan đến tướng số chứ hông phải là điển tích ạ :">
Thấy cái câu của bác Dắt thì làm cái post, way định câu bài à :P
Bít thì giải thích đi, về tướng số cũng được.
Đại khái em đọc/nghe ở đâu đó nói rằng người có đôi hàng tóc mai dài thì là tốt phước. Thêm nốt ruồi ẩn dưới tóc mai thì càng tốt.
hị hị... Hết vốn ạ!!! >:)
Không biết mọi người đã từng nghe câu:"Tề gia trị quốc bình thiên hạ" chưa nhỉ?vế đầu"Tề gia trị quốc" thì ai cũng hiểu còn vế sau thế nào có ai biết không?hj`
PantherSon
09-04-08, 23:13
Bạch tiên sinh là danh sĩ nước Vệ, có điền trang bên bờ sông Bộc. Toàn bộ gia sản cha ông để lại, tiên sinh dùng xây thư các và thư phòng hết. Ngày ngày, tiên sinh đọc sách từ sáng đến tối, nhiều đến mức rụng hết cả tóc. Dân tình quanh 2 bờ sông ai nấy đều nể tài học của tiên sinh, duy bọn trẻ con thấy tiên sinh còn ít tuổi mà trông đã quá già nên hay gọi trêu là "Bác Bạch".
Tiếng đồn đến tai Vệ Hồng Vương rằng Bạch tiên sinh có tài đọc ngày trên 2 trăm cuốn sách (sách Lã Thị Xuân Thu chép "Bạch gia nhật độc nhị bách thư."), bèn vời vào triều. Bạch tiên sinh tới, nói chuyện 2 ngày 2 đêm liền với Vệ Vương, vương lấy làm hợp ý lắm, mới giữ lại trong cung có ý mời làm Thái giám (là người giám hộ, bảo ban hằng ngày cho Thái Tử).
Một hôm, Bạch tiên sinh đi dạo trong hậu viên, chợt gặp một đoàn phi của Vệ vương cũng đi dạo, trong đó có Trang quý phi là người được Vệ Hồng Vương sủng ái bậc nhất. Bấy gờ ánh nắng ban mai chiếu hồng, Bạch tiên sinh chợt nhìn thấy cằm của Trang phi thon mà không nhọn, da hồng mà không trắng, cầm lòng không đậu bèn liều đi quá véo cắm phi một cái. Trang phi cả giận, hô nội thị báo với Vệ Vương. Bạch tiên sinh thấy Trang phi làm to chuyện cũng hoảng, nhanh chân nhảy qua tường hoa viên, tức tốc theo lối cửa tây cung mà trốn ra ngoài.
Bạch tiên sinh vì trốn quá vội nên không kịp mang theo tư trang, phải vào nhà một người cháu bên đằng ngoại, họ An, xin lộ phí và quần áo. An sinh bấy giờ có bạn làm quan Thủ thư ở nước Tề, biết tài bác Bạch, liền viết thư tiến cử sang cho bạn. Bạch tiên sinh mang thư sang, bạn của An sinh là Hà đại nhân thích lắm, mới vào tâu với Tề vương.
Tề vương hỏi:
- Hắn đã mắc lỗi véo cằm Trang phi của Vệ Vương, 2 nước lại đang kết đồng mình, lẽ nào ta nhận hắn? Chi bằng chém quách dâng đầu qua Vệ Vương thắt chặt thêm tình.
Hà đại nhân khuyên:
- Đại vương chớ nên. Bạch tiên sinh người tài ngàn năm có một, chỉ vì một lỗi thường mà phải chạy qua đây, nay ta lại chém mất, thì về sau kẻ sĩ không ai về hầu đại vương nữa. Chi bằng Đại vương nhân dịp, ban cho Bạch tiên sinh 30 mỹ nữ cằm đẹp, ban cho phủ đệ, thỉnh thoảng vời vào cung nói chuyện để mở rộng kiến văn.
Tề Vương lắc đầu:
- Vậy nếu Vệ vương biết chuyện, cho sứ giả sang hỏi thì ta trả lời sao?
Hà Đại nhân bày:
- Cực dễ. Đại Vương truyền bá quan từ giờ trở đi ai cũng phải véo cằm người khác khi gặp, bất kể nam nữ. Như vậy khi sứ nước Vệ sang, thấy rằng đó là tập tục của nước ta, Đại Vương nói Bạch tiên sinh hợp với tập tục này lắm nên giữ lại, vậy là được.
Tề Vương y lời Hà Đại nhân, quả nhiên giữ được Bạch tiên sinh và vẫn không mất tình giao hảo với nước Vệ. Tập tục véo cằm cũng từ cung lan ra ngoài trở thành tục riêng của nước Tề. Cho đến nay, một số nhóm người thiểu số vẫn bị ảnh hưởng bởi tập tục này.
Không biết mọi người đã từng nghe câu:"Tề gia trị quốc bình thiên hạ" chưa nhỉ?vế đầu"Tề gia trị quốc" thì ai cũng hiểu còn vế sau thế nào có ai biết không?hj`
Nói một cách ngắn gọn là
1 câu này có ở bên nhà láng giếng TQ
2 Bên đấy luôn có một đồng chí nào đấy muốn thống nhất tất cả thành một đất nước
3 Nên chí lớn của người quân tử là Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
:))
Nhưng chả đúng đâu, phần nào thôi :))
Sugar Baby
25-08-08, 14:13
Tam nhân thành hổ
Vào thời Chiến Quốc, các nước thường công phạt lẫn nhau, (thế cho nên) để có thể cùng tôn thủ minh ước, giữa các nước thường cử thái tử đi làm con tin để chứng tỏ thành ý của mình (nhân tiện cũng là để dò xét nước nóhttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M013.gif). Nước Ngụy và nước Triệu đã lập minh ước hữu hảo (thỉnh thoảng uýnh nhau vỡ đầu thôi http://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M045.gif), Ngụy vương bèn đưa thái tử tới kinh đô Hàm Đan của nước Triệu, tuy vậy, Ngụy Vương không yên tâm vì vị thái tử còn trẻ tuổi này nên bèn phái đại thần thân tín của mình là Bàng Thông cùng đi.
Bàng Thông lo rằng khi mình rời khỏi nước Ngụy, sẽ có người đến nói xấu mình trước mặt Ngụy vương (vì chắc ông ta chuyên làm chuyện xấu nên mới có tật giật mình thế). Tuy vậy, ông lại không tiện trực tiếp bày tỏ những lo lắng của mình với Ngụy vương, vì thế trước khi rời nước Ngụy, ông đã hỏi Ngụy Vương một cách rất khéo léo: “Thưa đại vương, nếu có người báo với đại vương, trên đường phố của thành Đại Lương (kinh đô nước Ngụy) ta có hổ, đại vương có tin không ạ? (có người bảo đại ca em là thằng tồi thì đại ca có tin khônghttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M012.gif)”
Ngụy Vương không cần suy nghĩ gì, liền đáp: “Trước nay hổ chỉ sinh sống ở rừng sâu, làm sao mà có ở trên phố được. Quả nhân quyết không tin. (Anh tin chú lắm, xưa nay chú vẫn tốt với anh, làm sao anh tin chúng nó nói láo được http://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M040.gif)”
Bàng Thông bèn hỏi tiếp: “Nếu lại có một người thứ hai chạy tới, kể chuyện có hổ với đại vương một cách hết sức sinh động thì đại vương có tin không? (Thế lại có thằng nữa kể tội em như đúng rồi thì đại ca nghĩ saohttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M058.gif)”
Ngụy vương chậm rãi đáp: “Chà, nếu hai người cùng nói thế thì quả nhân cũng thấy bán tín bán nghi(Mịe, nếu mà hai thằng nói thế thì anh cũng hơi nghi chú đấyhttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M025.gif).”
Bàng Thông lại hỏi : “Thế nếu ngay sau đó, có một người thứ ba vội vã chạy tới báo với đại vương rằng, con mãnh hổ đó xông vào nhà dân, lại cắn chết mấy người nữa, thì đại vương sẽ nghĩ thế nào? (Thế nếu lại thằng nữa lăng xăng đến ton hót là em xỏ đểu sau lưng đại ca thì đại ca tính làm sao http://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M03.gif)”
Ngụy vương cũng không còn cách nào nữa bèn nói: “Nếu mọi người đều nói vậy thì quả nhân cũng đành phải tin tưởng mà không còn nghi ngờ gì nữa(Đến thế thì thôi, anh đành xử chú thôihttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M051.gif)”.
Bàng Thông nghe vậy bèn chuyển hướng câu chuyện, kể tâm sự của mình cho Ngụy vương: “Bây giờ thần phải cùng thái tử tới Hàm Đan rồi, khoảng cách từ Hàm Đan đến thành Đại Lương ta thì xa hơn nhiều so với khoảng cách từ trong cung ra ngoài phố. Thần đi rồi, những người đến nói xấu thần trước mặt đại vương chắc chắn không chỉ có ba người, vậy xin đại vương minh xét mới được.” (Ông anh có làm gì thì làm, đừng có nghe chúng nó xúi bẩy mà đẩy thằng này ra nhá.)
Ngụy vương bèn nắm tay Bàng Thông nói: “Quả nhân tin tưởng khanh, khanh cứ yên tâm đi đi.”(Anh đã bảo là anh tin chú mà, chú cứ vững dạ mà đi.)
Bàng Thông đưa thái tử đi Hàm Đan rồi, quả nhiên có rất nhiều kẻ đố kỵ nhân tài đến nói xấu Bàng Thông trước mặt Ngụy vương. Ban đầu, Ngụy vương không tin, nhưng càng về sau, càng nhiều người nói, Ngụy vương đành phải tin đó là sự thật.
Thái tử hết kỳ hạn làm con tin được quay về, Bàng Thông cũng cùng về. Nhưng lúc này, Ngụy vương không còn tin tưởng Bàng Thông nữa, thậm chí còn không muốn nhìn mặt ông. Từ đó, Bàng Thông uất ức, thường bất đắc chí mà tự than rằng: “Than ôi, lòng người hiểm ác, quả nhiên ba người nói thì sẽ phải tin là có hổ thật rồi!” (Biết cái thằng không có lập trường này mà, dám cho anh mày toạch à, đồ đểuhttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M029.gifhttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M029.gifhttp://diendan.vtc.vn/upfiles/smiley/M029.gif)
----> Miệng lưỡi con người thật là nguy hiểm, ko những có thể cắn xé, lây nhiễm vi trùng mà còn có thể đưa đẩy nhiều chuyện khiến lắm người thân bại danh liệt. Thêm mấy cái miệng cùng châu vào thì càng...thích. Cũng rút ra thêm kinh nghiệm muốn dựng chuyện nói xấu ai thì ít nhất cũng phải bè đảng được thêm 2 người nữa rồi hẵng ra tay =))
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.